vanban.org

Bản án 43/2019/HSST — Hình sự

TAND tỉnh Sơn La Tuyên án 26/06/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 251 Bộ luật Hình sự
N N N N
ỈN
N

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2019/HSST
Ngày 06 - 6 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG

ỘI Ủ NG Ĩ VIỆT NAM

N N N N ỈN

N

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lò Văn Điệt

Thẩm phán: Ông Hoàng Trung Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lừ Văn Tuyên, ông Lê Bắc Hải và bà Lèo Thị Chan.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Cương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2019/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2019 đối với bị cáo:

Giàng A C, sinh năm 1961 tại Mường La - Sơn La. Nơi cư trú: Bản TC, xã PC, huyện MS, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Giàng A L (L1) và bà Hàng Thị M (đều đã chết); có vợ Sồng Thị G và có 06 con (con lớn sinh năm 1988, con nhỏ sinh năm 2001); tiền sự, tiền án: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/12/2018 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La. Có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Bá Linh là Luật sư, thuộc Đoàn luật sư tỉnh Sơn La. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Sồng Thị G, sinh năm 1966, anh Giàng A V, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Bản TC, xã PC, huyện MS, tỉnh Sơn La. Có mặt.

Người phiên dịch cho bị cáo Giàng A C: Anh Sồng A LX. Nơi cư trú: Thôn 7, xã CM, huyện MS, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 02 giờ 30 phút ngày 05/12/2018, tổ công tác Công an huyện SM làm nhiệm vụ tại khu vực bản CX, xã MH, huyện SM phát hiện và bắt quả tang Giàng A C (trú tại: Bản TC, xã PC, huyện MS) đang có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Giàng A C.

Vật chứng thu giữ gồm: 10 túi ni lon bên trong chứa các viên nén màu hồng nghi là hồng phiến, thu trong túi vải màu đen C đang đeo trên người (C khai số ma túy trên là hồng phiến mua về sử dụng và bán), ngoài ra còn thu giữ 01 điện thoại di động, 01 xe máy Biển kiểm soát 26K4-1322, 01 túi vải màu đen.

Ngày 07/12/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện SM thành lập hội đồng mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, lấy mẫu trưng cầu giám định: 10 túi ni lon bên trong có chứa 2.020 viên nén màu hồng có khối lượng 179,77 gam, trích trong mỗi túi lấy 10 viên màu hồng có khối lượng 8,9 gam kí hiệu từ A1 đến A10 làm mẫu gửi giám định ma túy.

Tại kết luận giám định số: 46 ngày 11/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:

"Mẫu giám định ký hiệu từ A1 đến A10 là ma túy; loại Methamphetamine; tổng khối lượng của mẫu giám định là 8,9 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 179,77 gam; loại Methamphetamine".

Quá trình điều tra bị cáo Giàng A C khai nhận:

Giàng A C là đối tượng nghiện ma túy, với mục đích mua ma túy để sử dụng và bán kiếm lời, khoảng 19h30 phút ngày 04/12/2018 Giàng A C gọi điện cho một người đàn ông dân tộc Mông (Lào) tên là C2 (người quen của C) đặt mua 10 túi hồng phiến, C2 nói có hồng phiến bán với giá 1.500.000 đồng/01 túi, C nhất trí, C2 hẹn C khoảng 23 giờ cùng ngày gặp nhau tại đường tuần tra biên giới Việt Nam - Lào thuộc bản BH, xã MH, huyện SM để giao hồng phiến và nhận tiền. Sau khi hỏi mua hồng phiến của C2, C điều khiển xe máy BKS 26K4-1322 mang theo 15.000.000 đồng đi từ nhà ở bản TC, xã PC, huyện MS đến khu vực đường tuần tra biên giới Việt Nam - Lào thuộc bản BH, MH thì thấy C2đang đứng đợi ở ven đường. C lấy 15.000.000 đồng đưa cho C2, C2 nhận tiền rồi đưa cho C 10 túi hồng phiến, C cất túi hồng phiến vào túi vải đeo trên người rồi xin C2 một ít Heroine để sử dụng, sau đó C2 đi đâu C không biết. C ở lại khu vực đường tuần tra biên giới sử dụng Heroine. Đến khoảng 02 giờ ngày 05/12/2018, C điều khiển xe máy và túi đựng ma túy về nhà. Trên đường đến bản CX, xã MH, huyện SM thì bị tổ công tác kiểm tra phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.

Về nguồn gốc số ma túy thu giữ trong vụ án, Giàng A C khai mua của một người đàn ông tên C2 (dân tộc Mông, quốc tịch Lào) không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể. Ngoài lời khai của C, không còn căn cứ nào khác chứng minh, do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra, xác minh làm rõ.

Tại cáo trạng số: 28/VKS-P1 ngày 25/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Giàng A C về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như cáo trạng và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Giàng A C 20 (hai mươi) năm tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Giàng A C:

Về tội danh, điều luật áp dụng và tình tiết tăng nặng giảm nhẹ nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo là dân tộc thiểu số, không biết chữ, sống ở vùng sâu, vùng xa hiểu biết pháp luật hạn chế, có tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo mức án dưới khung hình phạt là 18 năm tù.

Bị cáo nhất trí với đề nghị của Luật sư

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Sồng Thị G, anh Giàng A V xác định chiếc xe máy BKS 26K4 – 1322 là tài sản chung của gia đình. Khi bị cáo sử dụng chiếc xe máy làm phương tiện đi mua ma túy, bà G, anh V không biết. Chiếc xe là tài sản có giá trị duy nhất phục vụ cuộc sống của gia đình, đề nghị xem xét trả lại chiếc xe cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện SM, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Hồi 02 giờ 30 phút ngày 05/12/2018, Giàng A C khi đang có hành vi vận chuyển trái phép 179,77 gam Methamphetamine với mục đích sử dụng và bán kiếm lời thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:

- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 02 giờ 40 phút, ngày 05 tháng 12 năm 2018 tại bản CX, xã MH, huyện SM, tỉnh Sơn La đối với Giàng A C, vật chứng thu giữ 10 túi ni lon bên trong chứa các viên nén màu hồng (2.020 viên) - C khai là hồng phiến.

Kết luận giám định số: 46 ngày 11/12/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: "Mẫu giám định ký hiệu từ A1 đến A10 là ma túy; loại Methamphetamine; tổng khối lượng của mẫu giám định là 8,9 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 179,77 gam; Loại Methamphetamine".

- Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các chứng cứ đã thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án.

Với các căn cứ chứng minh trên có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Giàng A C đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về khung hình phạt áp dụng: Bị cáo Giàng A C có hành vi mua bán trái phép 179,77 gam ma túy, loại Methamphetamine đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt “Heroine, Cocain, Methamphetamine, MDMA hoặc XRL-11 có khối lượng 100 gam trở lên” quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt tù 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.

Ngoài hình phạt chính, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn, thuộc hộ nghèo không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo Giàng A C thuộc trường hợp phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, bị cáo mua bán ma túy với số lượng lớn, gây nguy hại lớn cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, tiền chất ma túy. Do đó, cần có mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới đảm bảo được tính răn đe và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 170,87 gam Methamphetamine còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định, xét là mặt hàng Nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 chiếc túi vải màu đen thu giữ của Giàng A C, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với chiếc điện thoại nhãn hiệu Masstel màu đen thu giữ của Giàng A C trong vụ án, được xác định là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, cần tịch thu nộp vào Ngân sách nhà nước.

Đối với một chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA WAVE α màu xanh , BKS 26k4 - 1322 được xác định là tài sản chung của gia đình bà G, anh V và bị cáo. Khi bị cáo sử dụng chiếc xe làm phương tiện thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy, bà G, anh V không biết. Chiếc xe là tài sản có giá trị duy nhất phục vụ cuộc sống của gia đình nên cần trả lại chiếc xe trên cho bà Sồng Thị G, anh Giàng A V.

Về án phí: Bị cáo Giàng A C thuộc diện hộ nghèo, nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lý lẽ trên;

QUYẾ ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015:

Tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo Giàng A C 20 (hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 05/12/2018.

Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2, điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

- Tịch thu tiêu hủy: 170,87 gam Methamphetamine còn lại sau khi đã lấy mẫu giám định + 01 túi vải màu đen được đựng trong 01 (một) hộp vật chứng còn nguyên niêm phong, một mặt hộp vật chứng có ghi dòng chữ: “Vật chứng vụ: Giàng A C, sinh năm 1961. Nơi cư trú: Bản TC, PC, MS, Sơn La. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy, gồm: Vật chứng kí hiệu từ C1 đến C10 có tổng khối lượng = 170,87 gam nghi là hồng phiến, 01 túi vải màu đen”. Mặt sau hộp vật chứng tại mép giáp lai được dán giấy niêm phong trên giấy niêm phong có 01 con dấu tròn đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra Công an SM ngày 07.12.2018 cùng chữ ký và dấu điểm chỉ vân tay ngón trỏ phải của Giàng A C, dòng ghi rõ họ tên của các thành phần tham gia niêm phong của Lò Thị Thanh, Phan Trần Hoài Linh, Phạm Kiên Trung, Hoàng Hải Nam, Lò Văn Phân.

- Tịch thu nộp vào Ngân sách Nhà nước:

+ 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL, đã qua sử dụng thu giữ của Giàng A C trong vụ án được đựng trong một chiếc phong bì do bưu điện phát hành còn nguyên niêm phong, một mặt phong bì có ghi: “Điện thoại di động của Giàng A C, sinh năm 1961 ở bản TC, PC, MS, Sơn La, hành vi: Mua bán trái phép chất ma túy”. Mặt sau phong bì ghi tại mép giáp lai có 01 dấu tròn đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra của Công an huyện SM cùng chữ ký và dấu điểm chỉ vân tay ngón trỏ phải của Giàng A C, dòng ghi rõ họ tên của các thành phần tham gia niêm phong của Lò Thị Thanh, Lành Trung Hà, Phan Trần Hoài Linh.

- Trả lại cho bà Sồng Thị G, anh Giàng A V: 01(một) chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA WAVE α màu xanh , BKS 26K4 - 1322, xe có số khung 070893, số máy 1271780, xe không có gương chiếu hậu, cánh yếm bên phải của xe không có, bên sườn phải của xe bị xước và bị vỡ, kèm 01 chìa khóa, xe đã qua sử dụng, thu giữ của Giàng A C trong vụ án.

3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng A C.

Bị cáo, người có quyền lợi liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 06/6/2019).

Cỡ chữ