vanban.org

Bản án 43/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La Tuyên án 18/09/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn T 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 04/5/2019. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SỐP CỘP
TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2019/HS-ST
Ngày 18 tháng 9 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SỐP CỘP TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ứng Văn Cường

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lò Văn Dưỡng

2. Bà Hoàng Thị Kiều

- Thư ký phiên toà: Ông Hà Văn Thiết – Thư ký Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: Ông Mai Văn Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 152/2019/QĐXXST-HS, ngày 04/9/2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T - Sinh năm: 1982 tại: Huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.

Nơi cư trú: Bản H, xã N, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa 9/12; Dân tộc:Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T và bà Vũ Thị Đ; Bị cáo có vợ và 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân chưa bị pháp luật xử lý lần nào; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/5/2019 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ và liên quan: Chị Lường Thị T

Nơi cư trú: Bản H, xã N, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 20 phút ngày 04/5/2019 tổ công tác Công an huyện Sốp Cộp phối hợp cùng Công an xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp trong khi làm nhiệm vụ tại trạm Kiểm lâm Tà Cọ, thuộc bản Tà Cọ, xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ bên trong chiếc túi vải màu đen của T 01(một) gói ni lon màu hồng, bên trong chứa 03(ba) viên nén màu hồng nghi là viên hồng phiến, 01 xe mô tô nhãn hiệu HonDa kiểu xe Dream, biển kiểm soát 26C1- 06917. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng thu giữ và dẫn giải Nguyễn Văn T về Công an huyện Sốp Cộp để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

Ngày 07/5/2019 tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành lập Hội đồng bóc, mở niêm phong cân tịnh, xác định khối lượng, trích mẫu giám định vật chứng. Kết quả cân tịnh 03(ba) viên nén màu hồng có tổng khối lượng 0,30gam đã trích hết làm mẫu gửi giám định ký hiệu T.

Kết luận giám định số 863 ngày 08/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:“Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy; loại Methamphetamine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,30gam; Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,30gam; loại Methamphetamine”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội như sau:

Nguyễn Văn T là người sử dụng chất ma túy, khoảng 19h00 ngày 03/5/2019 T một mình điều khiển xe mô tô từ nhà ở bản H, xã N, huyện Sông Mã đến khu vực bản Huổi Dương, xã Mường Và, Sốp Cộp mục đích tìm mua viên hồng phiến để sử dụng. Khi đi đến khu vực trung tâm bản Huổi Dương, xã Mường Và, T gặp một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, tuổi, địa chỉ đang đi bộ trên đường T dừng xe hỏi người đàn ông này có viên hồng phiến bán không? Người đàn ông này trả lời có bán và bán với giá 30.000đ (Ba mươi nghìn đồng) một viên, T đưa cho người đàn ông này 90.000đ(Chín mươi nghìn đồng). Sau khi nhận tiền của T, người đàn ông dân tộc Mông bảo T đứng đợi để ông ta đi mua viên hồng phiến cho T. T bảo với người đàn ông dân tộc Mông, khi mua được viên hồng phiến thì cho vào túi vải màu đen T treo ở xe mô tô giấu ở bụi cây gần đó, còn T đi bộ vào rừng tìm quả chuối rừng. Đến khoảng 16h00 ngày 04/5/2019 T đi bộ về nơi để xe mô tô, rồi đi xe về nhà. Khi đi đến Trạm Kiểm lâm Tà Cọ, thuộc bản Tà Cọ, xã Sốp Cộp, huyện Sốp Cộp thì bị tổ công tác Công an huyện Sốp Cộp phối hợp cùng Công an xã Sốp Cộp kiểm tra, bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên.

Cáo trạng số 42/CT – VKS, ngày 19 tháng 8 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp để xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên toà sau khi trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn T từ 13 đến 16 tháng tù, trả lại chiếc xe mô tô thu giữ của bị cáo cho gia đình bị cáo, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật. Đồng thời đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo, bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo nhất trí với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhất trí với ý kiến của kiểm sát viên, không có ý kiến gì tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Bị cáo Tiệp nhận tội và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với cộng đồng trở thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sốp Cộp, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo đã trực tiếp tàng trữ 0,30 gam; loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm được quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Trong vụ án này số lượng ma túy bị cáo tàng trữ là không lớn; ngoài mục đích sử dụng ra bị cáo không còn mục đích nào khác do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp truy tố bị cáo về tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 01 đến 05 năm tù là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương. Số lượng ma túy bị cáo tàng trữ tuy không lớn, nhưng nếu không được ngăn chặn kịp thời chất độc hại này sẽ được đưa vào cơ thể con người làm suy thoái giống loài, nếu để lây lan, trôi nổi trong xã hội làm cho tệ nạn ma túy tại địa phương ngày càng phức tạp. Do đó bị cáo cần phải bị trừng trị thích đáng nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do đó cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Xét về nhân thân của bị cáo: Bị cáo là người có nhân thân tốt chưa có tiền án tiền sự, ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa bị pháp luật xử lý lần nào khác. Theo báo cáo của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú bị cáo là đối tượng nghiện hút ma túy không có việc làm ổn định, thường có dấu hiệu tiếp xúc với các đối tượng nghiện ma túy trên đại bàn. Để trừng trị đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội, cũng như công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới đảm bảo cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Đối với người đã trực tiếp bán ma túy cho bị cáo HĐXX xét thấy hành vi đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội cần phải bị xử lý hình sự, nhưng quá trình điều tra không xác định được đối tượng nên không có căn cứ để xử lý ở vụ án này, đề nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý ở vụ án khác.

Vật chứng thu giữ của vụ án: Đối với 0,30 gam; loại Methamphetamine quá trình giám định đã sử dụng hết; 01 phong bì thư niêm phong ban đầu cùng 01 mảnh giấy nilon màu hồng được cho vào 01 phong bì thư của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La niêm phong dán kín lại, 01 (một) chiếc túi vải màu đen đã qua sử dụng là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 chiếc xe mô tô hiệu HonDa kiểu xe Dream, Biển kiểm soát 26C1-06917, số khung 382151, số máy 1681954 Giấy đăng ký mang tên Nguyễn Văn T quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của gia đình bị cáo, việc bị cáo T mang xe đi tàng trữ ma túy gia đình bị cáo không biết. Ngày 03/9/2019 chị Lường Thị T là vợ của bị cáo có đơn xin xe máy gửi Tòa án huyện Sốp Cộp, HĐXX xét thấy chiếc xe máy là tài sản chung của gia đình chị T do đó cần trả lại cho gia đình chị Lường Thị T

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy lẽ ra ngoài hình phạt tù, bị cáo còn phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015; nhưng xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, tài sản không có gì nên không áp dụng hình pháp bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015

1. Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.

2. Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn T 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 04/5/2019.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

3. Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS năm 2015, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu để tiêu huỷ 01 phong bì thư niêm phong ban đầu và 01 mảnh giấy nilon màu hồng, 01 chiếc túi vải màu đen đã qua sử dụng; trả lại cho chị Lường Thị T 01 chiếc xe mô tô hiệu HonDa kiểu xe Dream, Biển kiểm soát 26C1-06917, số khung 382151, số máy 1681954. Vật chứng nêu trên được mô tả theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 20/8/2019 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp và Công an huyện Sốp Cộp.

Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016, buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng)

Báo cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 18/9/2019.

Cỡ chữ