vanban.org

Bản án 43/2019/HSST — Hình sự

TAND huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 17/07/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự, hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn N. phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn N. 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (28/4/2019). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "HOÀNG VĂN NG. Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND HUYỆN CHIÊM HÓA
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2019/HSST
Ngày 17/7/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Hữu Việt

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Quốc Văn Tài

2. Ông Lý Văn Tòng

- Thƣ ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa tham gia phiên tòa: Ông Đàm Như Hiển, Kiểm sát viên VKSND huyện Chiêm Hóa.

Ngày 17 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2019/TLST - HS ngày 19 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2019/QĐXXST - HS ngày 03/7/ 2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Văn N., sinh ngày 14/7/1974; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn B. C., xã B. P., huyện C. H., tỉnh T. Q.; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 05/12; Họ và tên bố: Hoàng Văn Đ. (đã chết); Họ và tên mẹ: Phùng Thị S., sinh năm 1939; Vợ: Triệu Thị Đ., sinh năm 1979; Có 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2015;

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân:

+ Quyết định số 53 ngày 04/8/2010 của UBND xã Bình Phú huyện Chiêm Hóa về việc cai nghiện giai đoạn I;

+ Quyết định số 2301 ngày 01/10/2010 của UBND huyện Chiêm Hóa về việc cai nghiện giai đoạn II; Quyết định số: 2572 ngày 22/10/2011 của UBND huyện Chiêm Hóa về việc cai nghiện giai đoạn III;

+ Quyết định số 33 ngày 09/4/2013 của UBND xã Bình Phú về việc cai nghiện giai đoạn I;

+ Quyết định số 05a ngày 06/02/2014 của UBND xã Bình Phú về việc cai nghiện giai đoạn II.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/4/2019, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. (Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ ngày 28/4/2019, tại thôn P., xã B. P., huyện C. H., tỉnh T. Q., tổ công tác Công an huyện Chiêm Hóa phối hợp với Công an xã B. P., lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hoàng Văn N. về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ 03 gói nhỏ có đặc điểm bên ngoài đều gói bằng giấy nhiều màu, bên trong có chứa chất bột vón cục màu trắng, N. khai là Heroine, mục đích để sử dụng.

Biên bản xét nghiệm tìm chất ma túy hồi: 15 giờ 40 phút ngày 28/4/2019 tại Công an huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang đối với Hoàng Văn N., kết quả: (+) Dương tính.

Tại kết luận giám định số: 327/GĐKTHS ngày 02/5/2019 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Số chất bột vón cục màu trắng trong 03 gói nhỏ thu giữ của Hoàng Văn N. gửi giám định là chất ma túy (loại Heroine), tổng khối lượng 0,144g (không phẩy một bốn bốn gam).

Quá trình điều tra N. khai nhận: Khoảng 10 giờ ngày 28/4/2019, N. mang theo một bơm kim tiêm bằng nhựa (mua trước đó) một mình từ nhà ra đường và đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết tên, tuổi và địa chỉ đến khu vực cầu Pác Cáp thuộc thôn Phú Linh, xã Bình Phú, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang mục đích tìm mua Heroine về sử dụng cho bản thân. Đến nơi, Ng. xuống xe đi bộ khoảng 100m thì gặp một người đàn ông không biết tên, tuổi và địa chỉ đang đứng một mình ở cạnh đường, N. đến gần hỏi mua được 03 gói nhỏ Heroine có đặc điểm bên ngoài đều gói bằng giấy nhiều màu, bên trong có chứa chất bột vón cục màu trắng với giá 300.000đ. Sau khi mua được Heroine N. đi bộ xuống khu vực bờ suối gần đó, tìm chỗ vắng người lấy một gói Heroine mua được san ra một ít để sử dụng bằng cách tiêm chích vào cơ thể, số còn lại N. gói vào như cũ và cất giấu cả 03 gói vào túi quần bên phải đang mặc, còn chiếc bơm kim tiêm N. cất giấu vào túi quần bên trái đang mặc và đi bộ về nhà. Khi đi được khoảng 500m, thì bị tổ công tác Công an huyện Chiêm Hóa phát hiện lập biên bản bắt giữ cùng toàn bộ tang vật.

Từ nội dung trên, tại Cáo trạng số 46/CT-VKSCH ngày 18/6/2019 Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa truy tố Hoàng Văn N. về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hoàng Văn N. tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung đã khai tại giai đoạn điều tra, đã nêu trong Cáo trạng, không phát sinh tình tiết mới.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX:

- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Văn N. từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Hạn tù tính từ ngày 28/4/2019.

Do bị cáo phạm tội chưa có vụ lợi, gia đình thuộc hộ nghèo, bản thân không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

- Về xử lý vật chứng áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy đối với số Heroine thu giữ niêm phong trong 01 phong bì, có chữ ký xác nhận của bị cáo, người tham gia niêm phong và 05 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang và 01 túi nilon bên trong chứa một bơm kim tiêm đã qua sử dụng.

Ngoài ra đề nghị HĐXX buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, lời khai của những người tham gia tố tụng khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân huyện Chiêm Hóa xét thấy:

1. Xét về hành vi, quyết định tố tụng: Điều tra viên và Cơ quan điều tra Công an huyện; Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện, trong quá trình bắt quả tang, khởi tố, điều tra, truy tố, thủ tục Tạm giữ, tạm giam đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hoàng Văn N. đã bị Công an huyện Chiêm Hóa ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính (phạt tiền) là đúng quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2. Về áp dụng pháp luật: Tại Cáo trạng số 46/CT-VKSCH ngày 18/6/2019, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chiêm Hóa truy tố Hoàng Văn N. về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Hoàng Văn N. khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, phù hợp nội dung kết luận điều tra và bản Cáo trạng đã nêu; đủ cơ sở kết luận: Hoàng Văn N. có hành vi mua 03 gói nhỏ khai nhận là Heroine, đã sử dụng 01 phần và còn lại đang tàng trữ nhằm sử dụng, chưa có dấu hiệu để bán, số còn lại đã giám định kết luận là ma túy, loại Heroine có tổng khối lượng 0,144g (không phẩy một bốn bốn gam), nên việc truy tố với Hoàng Văn N. về một tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS như trong bản Cáo trạng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

3. Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo Hoàng Văn N. tàng trữ 0,144g (không phẩy một bốn bốn gam) Heroine là đủ dấu hiệu truy tố theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết định khung hình phạt khác.

4. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với bị cáo:

Tại giai đoạn điều tra cho đến khi bị xét xử tại phiên tòa bị cáo Hoàng Văn N. khai báo thành khẩn, nhận tội, gia đình thuộc hộ nghèo, dân tộc thiểu số sống ở vùng KTXH đặc biệt khó khăn, không yêu cầu người bào chữa, nên bị cáo Hoàng Văn N. được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo Hoàng Văn N. là hành vi nguy hiểm cho xã hội, gây mất an ninh trật tự tại địa phương, trực tiếp xâm phạm vào chính sách quản lý về chất ma túy của nhà nước. Vì vậy cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Tuy Bị cáo Hoàng Văn N. đã bị xử lý hành chính về hành vi sử dụng ma túy nhiều lần trước khi bị xét xử, nhưng có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng; số lượng ma túy trên mức thấp nhất quy định khoản 1 Điều 249 BLHS, nên đủ căn cứ áp dụng hình phạt mức thấp nhất của khung hình phạt là tương xứng với mức độ phạm tội và nhân thân bị cáo, có ý nghĩa giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

Về hình phạt bổ sung, xét bị cáo phạm tội chưa có vụ lợi, gia đình thuộc hộ nghèo, sống ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, bản thân không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung như Viện kiểm sát đề nghị là hợp lý.

5. Vật chứng liên quan đến vụ án: Đối với số Heroine thu giữ niêm phong trong 01 phong bì còn nguyên vẹn, các mép dán kín, có chữ ký xác nhận của bị cáo, người tham gia niêm phong và 05 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang và 01 túi nilon bên trong chứa 01 vỏ bơm kim tiêm đã sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

6. Vấn đề khác: Đối với người đã bán ma túy cho Hoàng Văn N. quá trình điều tra không xác minh được tên, tuổi, địa chỉ nên Hội đồng xét xử không có căn cứ xem xét và xử lý.

+ Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 38; điểm s khoản 1và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

- Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Văn N. phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn N. 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (28/4/2019).

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy số Heroine thu giữ niêm phong trong 01 (Một) phong bì còn nguyên vẹn, các mép dán kín, có chữ ký xác nhận của bị cáo, người tham gia niêm phong và 05 (Năm) hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang và 01 (Một) túi nilon bên trong chứa 01 (Một) vỏ bơm kim tiêm đã sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 18/6/2019 giữa cơ quan điều tra công an huyện Chiêm Hóa và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chiêm Hóa)

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số: 326/2016 - UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH khóa 14: Bị cáo Hoàng Văn N. phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Căn cứ điểm m khoản 2 Điều 61; Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Bị cáo Hoàng Văn N. có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (17/7/2019).

Cỡ chữ