- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh:Tuyên bố bị cáo Lò Văn D phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43 /2019/HSST Ngày: 26/9/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Đức Quang
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Dương Văn Hồng.
- Bà Hoàng Thị Sen.
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân huyện B tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 26/9/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai. Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 49/2019/TLST- HS ngày 12/9/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2019/QĐXXST - HS ngày 13 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo:
1. Họ và tên : Lò Văn D (tên gọi khác không) - Sinh ngày 01/7/1971 Sinh tại
huyện B, tỉnh Lào Cai.
Nơi cư trú: Thôn M, xã M, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hoá: 5/12; Dân tộc: Giáy; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam.
Con ông: Lò Chí T (đã chết) và bà Liềng Thị M - Sinh năm 1935.
Trú tại: Phường Duyên H, thành phố L, tỉnh Lào Cai.
Vợ: Phan Thị M - sinh năm 1974.
Trú tại: Thôn M, xã M, huyện B, tỉnh Lào Cai.
Con: bị cáo có 02 con lớn sinh năm 1991, nhỏ sinh năm 1993.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Chưa có án tích, chưa bị xử lý vị phạm hành chính và chưa bị xử lý kỷ luật.
Bị cáo bị bắt tạm giữ 06 ngày từ ngày 17/7/2019 đến ngày 23/7/2019, thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giữ sang cấm đi khỏi nơi cư trú, tại xã M, huyện B, tỉnh Lào Cai - Có mặt tại phiên toà
Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn D, Bà Hoàng Thị Diễm H - Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lào Cai - có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 17/7/2019, Lò Văn D điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 24P4 – 4487 từ nhà đến nhà của Chảo Duần N, tại thôn Trung C, xã D, huyện B, tỉnh Lào Cai để mua ma túy về sử dụng. Khi Lò Văn D đến nơi thì Chảo Duần N không có ở nhà, chỉ có vợ của Chảo Duần N ở nhà, Lò Văn D đã mua của người phụ nữ này 01 (một) gói ma túy được gói bằng nilon màu hồng với giá 200.000 (hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy Lò Văn D cầm gói ma túy ở tay trái rồi điều khiển xe về nhà. Khi đi đến thôn T, xã D, huyện B thì Lò Văn D bị tổ công tác của Công an huyện B phát hiện bắt quả tang. Thu giữ của Lò Văn D 01 (một) gói nilon màu hồng bên trong chứa chất bột khô màu trắng vón cục (Lò Văn D khai nhận là Hêrôin); 01 (một) điện thoại Nokia màu đen, tiền Việt Nam: 200.000 (hai trăm nghìn đồng); 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda loại xe Airblade biển kiểm soát 24P4 – 4487.
Tại Kết luận giám định số 171/GĐMT ngày 19/7/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Lào Cai đã kết luận: 0,73 (không phẩy bẩy mươi ba) gam chất bột khô màu trắng vón cục thu giữ của Lò Văn D, gửi giám định là loại chất ma túy Heroine (Hêrôin).
Đối với người phụ nữ đã bán ma túy cho Lò Văn D ngày 17/7/2019, theo lời khai của Lò Văn D là vợ của Chảo Duần N. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và xác định người phụ nữ đã bán ma túy cho Lò Văn D có nhân thân lai lịch là Lý San M, sinh năm 1969, trú tại thôn T, xã D, huyện B, tỉnh Lào Cai. Hiện Lý San Mẩy không có mặt tại địa phương nên cơ quan điều tra chưa xác minh làm rõ được, khi nào làm rõ được sẽ xử lý sau.
Cáo trạng số 48/CT - VKS ngày 12/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Lào Cai đã truy tố bị cáo Lò Văn D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử:
+ Tuyên bố bị cáo Lò Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1,2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn D từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
+ Về hình phạt bổ sung: Không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
+ Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu huỷ 0,66 gam Hê rôin được tái niêm phong trong bì thư.
- Chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Airblade biển kiểm soát 24P4 - 4487 Lò Văn D sử dụng làm phương tiện đi mua ma túy, là tài sản thuộc quyền sở hữu của chị Lò Thị H (em gái của bị can Lò Văn D), H không biết Lò Văn D sử dụng chiếc xe trên để đi mua ma túy nên cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Lò Thị H là đúng quy định của pháp luật.
- 01 (một) chiếc điện thoại Nokia, màu đen, tiền Việt Nam: 200.000 (hai trăm nghìn đồng) tạm giữ của Lò Văn D. Quá trình điều tra đã chứng minh làm rõ chiếc điện thoại và số tiền trên không phải là vật chứng của vụ án nhưng cần phải tạm giữ số tiền 200.000 (hai trăm nghìn đồng) để đảm bảo công tác thi hành án và trả lại chiếc điện thoại Nokia, màu đen cho bị cáo D.
- Ý kiến của người bào chữa bị cáo Lò Văn D cho rằng: Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện B truy tố bị cáo Lò Văn D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Xong cần xem xét giảm mức hình phạt cho các bị cáo vì bị cáo có nhân thân tốt là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng đặc biệt khó khăn, hiểu biết pháp luật hạn chế, không mắc nghiện ma túy, mua ma túy về sử dụng mục đích để chữa bệnh, khi bị bắt bị cáo đã thành khẩn khai báo và nhận tội, bố bị cáo là người có công tham gia trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, được chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai tặng Bằng khen. Nên đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lò Văn D mức thấp nhất của khung hình phạt là 01 năm tù.
+ Về hình phạt bổ sung: Không áp dung hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tội danh và hình phạt: Tại phiên toà hôm nay bị cáo Lò Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố. Lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác đã có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã đủ cơ sở kết luận, bị cáo Lò Văn D là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự cất dấu 0,73 gam Hê rô in với mục đích để sử dụng đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi của bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Gây mất trật tự, trị an ở địa phương, ảnh hưởng đến sức khỏe, suy thoái giống nòi. Để giữ nghiêm kỷ cương pháp luật, góp phần đẩy lùi và loại bỏ ma túy ra khỏi đời sống xã hội. Cần phải đưa bị cáo ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật và quyết định mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đấu tranh phòng chống tội phạm.
Về mức hình phạt đối với bị cáo như đại diện Viện kiểm sát và người bào chữa cho bị cáo đề nghị là phù hợp với quy định của pháp luật, cần được xem xét chấp nhận.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo D không có tình tiết tăng nặng, được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo tàng trữ ma tuý để sử dụng, không có việc làm và thu nhập ổn định, nên không cần phải áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền theo quy định tại khoản 5 điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
Về vật chứng gồm: 0,73 gam Hê rô in gửi giám định, đã trích mẫu 0,07 gam không hoàn lại, nên không đề cập xử lý. Còn 0,66 gam được tái niêm phong, là vật cấm tàng trữ, lưu hành. Cần tịch thu tiêu huỷ theo điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- 01 (một) chiếc điện thoại Nokia, màu đen, tiền ngân hàng nhà nước Việt Nam: 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tạm giữ của Lò Văn D, là tài sản thuộc quyền sở hữu của bị cáo, không phải là vật chứng của vụ án, nhưng bị cáo D còn phải thi hành khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm. Nên cần phải tạm giữ số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) để đảm bảo công tác thi hành án và trả lại cho bị cáo D chiếc điện thoại Nokia, màu đen.
- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA, loại xe Airblade biển kiểm soát 24P4 - 4487 thu giữ của Lò Văn D, bị cáo chỉ sử dụng làm phương tiện đi lại, không phải là vật chứng trong vụ án. Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho cho chủ sở hữu là phù hợp. Không đề cập giải quyết.
Về hành vi và quyết định tố tụng của Điều tra viên, cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và bị cáo, người báo chữa cho các bị cáo không có khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo Lò Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Toà án.
1. Về tội danh:Tuyên bố bị cáo Lò Văn D phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
2. Về mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn D 01(một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù và được trừ thời gian tạm giữ là 06 (chín) ngày, kể từ ngày 17/7/2019 đến ngày 23/7/2019.
3. Xử lý vật chứng :
- Tịch thu tiêu huỷ: 0,66 gam Hê rô in được tái niêm phong bằng bì thư in sẵn của kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Tại các mép dán của bì có chữ ký của hai bên giao nhận, đối tượng bị bắt và hình dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lào Cai. Trên một mặt bì có ghi “ Vật chứng còn lại sau trích mẫu giám định thu trong vụ án Lò Văn D có hành vi phạm tội về ma tuý. Phát hiện thu giữ ngày 17/7/2019 tại thôn T, xã D, huyện B, tỉnh Lào Cai”.
- Trả lại cho bị cáo Lò Văn D 01 chiếc điện thoại No kia, màu đen đã qua sử dụng, kèm theo 01 sim Viettel.
- Tạm giữ số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) của bị cáo Lò Văn D để đảm bảo thi hành án.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Lò Văn D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng)
5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
6. Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh; - VKSND huyện; - Các bị cáo; - Người bào chữa; - CCTHADS huyện; - CQCSĐT Công an huyện 02; - CQTHAHS Công an huyên; - Phòng Hồ sơ NV CA tỉnh LC; - Sở Tư pháp tỉnh Lào cai; - Lưu HS-THS-THAHS (6); | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã Ký) Ngô Đức Quang |