- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vì Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vì Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| _________ Bản án số: 43/2019/HS-ST Ngày 27/3/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC CHÂU, TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tường Duy Bình và bà Nguyễn Thị Tiện.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Định – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M tham gia phiên toà: Bà Mùi Thị Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện M, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2019/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2019, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:
Vì Văn T, sinh năm 1980, tại huyện M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản H, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá: Không; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vì Văn Đ và bà Vì Thị H; bị cáo có vợ là Lò Thị H và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2019 đến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 08 giờ 30 phút ngày 02/01/2019, tổ công tác Công an huyện M làm nhiệm vụ tại khu vực bản H, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La, qua kiểm tra hành chính về ma túy với Vì Văn T đã phát hiện Vì Văn T đang có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Vật chứng thu giữ 01 gói nilon màu hồng bên trong đựng chất bột màu trắng, Vì Văn T khai là Heroine cất giữ nhằm mục đích để sử dụng.
Tổ công tác đã lập biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng dẫn giải Vì Văn T về Công an huyện M để điều tra làm rõ, tạm giữ của Vì Văn T 01 chiếc ví giả da màu nâu, có chữ LEATHER.
Ngày 02/01/2019 cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M phối hợp với VKSND huyện M và Phòng Kỹ Thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La đã tiến hành mở niêm phong, xác định số lượng, khối lượng số ma túy của Vì Văn T, kết quả: Gói chất bột màu trắng thu giữ của Vì Văn T có khối lượng 0,1 gam, lấy 0,05 gam làm mẫu giám định ký hiệu “T”. Cơ quan Công an huyện M ra quyết định trưng cầu giám định chất ma túy và loại ma túy.
Tại kết luận giám định số: 184 ngày 05/01/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La, kết luận: Mẫu gửi giám định ký hiệu T là ma túy, loại chất Heroine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,05 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ được là 0,1 gam; loại Heroine.
Quá trình điều tra Vì Văn T khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 01/01/2019 Vì Văn T đi bộ một mình trên đường dân sinh bản H, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La thì gặp một người đàn ông dân tộc mông không quen biết đang đi bộ một mình trên đường, T hỏi và mua được của người đàn ông dân tộc M đó 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng mảnh nilon màu hồng với giá 50.000đ. Sau khi mua được Heroine, T vào bụi cây ven đường lấy một ít ra sử dụng hết, số Heroine còn lại T gói lại như cũ, cất vào ví giả da màu nâu của T rồi T cất ví vào trong túi quần phía sau bên phải đang mặc, mục đích để sử dụng dần. Đến khoảng 08 giờ ngày 02/01/2019 T đang ở nhà một mình thì tổ công tác Công an huyện M đến kiểm tra hành chính, yêu cầu T có gì liên quan đến ma túy thì giao nộp. T đã lấy từ trong túi quần phía sau bên phải đang mặc ra chiếc ví giả da màu nâu bên trong đựng 01 gói Heroine giao nộp cho tổ công tác.
Về nguồn gốc ma túy Vì Văn T khai mua của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết với số tiền 50.000 đồng. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Bản cáo trạng số: 44/CT-VKSMC ngày 13 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện M truy tố bị cáo Vì Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện M giữ nguyên quan điểm truy tố Vì Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Tuyên bố Vì Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Vì Văn T từ 18 tháng đến 21 tháng tù;
Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,05 gam Heroine cùng với vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Vì Văn T; 01 chiếc ví giả da màu nâu, có chữ LEATHER
3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Xét về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà bị cáo Vì Văn T thừa nhận: Hồi 08 giờ 30 phút ngày 02/01/2019 Vì Văn T đã thực hiện hành vi cất giữ trái phép 01 gói Heroine có khối lượng 0,1 gam, với mục đích để sử dụng thì bị bắt quả tang cùng vật chứng.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với kết quả điều tra được chứng minh như sau: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ trong vụ án; Kết luận giám định.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Vì Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do vậy cần xem xét cân nhắc xử phạt bị cáo mức hình phạt phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo. Việc cách ly bị cáo một thời gian là cần thiết, có như vậy mới có thể đảm bảo được điều kiện và thời gian để bị cáo cải tạo, giáo dục trở thành người tốt có ích cho gia đình và xã hội, đồng thời nhằm răn đe phòng ngừa giáo dục chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và xét hỏi tại phiên tòa thấy rằng bị cáo không có tài sản nên không phạt bổ sung - phạt tiền đối với bị cáo theo quy định của khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong đựng 0,05 gam Heroine cùng với vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên trong đựng test thử ma túy của Vì Văn T; 01 chiếc ví giả da màu nâu, có chữ LEATHER, là vật Nhà nước cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán ma túy cho bị cáo như bị cáo khai. Quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ của người này do đó không có căn cứ để điều tra xử lý.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Pháp luật.
Thời hạn tạm giam của bị cáo còn dưới 45 ngày nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Vì Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vì Văn T 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù của bị cáo tính từ ngày 02/01/2019.
Không áp dụng hình phạt bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi vật chứng vụ: Vì Văn T, bắt ngày 02/01/2019: Bên trong đựng 0,05 gam Heroine cùng với vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 phong bì niêm phong bên ngoài ghi test thử ma túy của Vì Văn T, ngày 02/01/2019. KQ: Dương tính. Bên trong đựng test ma túy của Vì Văn T; 01 chiếc ví giả da màu nâu, có chữ LEATHER, đã qua sử dụng cũ.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Vì Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 27/3/2019.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Sơn La; - Sở tư pháp tỉnh Sơn La; - VKSND tỉnh Sơn La; - VKSND huyện M; - Công an huyện M; - THAHS; - Trại giam; - Chi cục THA dân sự huyện M; - Bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, án văn. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Trung Kiên |