vanban.org

Bản án 43/2019/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Thái Bình Tuyên án 22/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Án số: 43/2019/HS-ST
Ngày: 22/10/2019

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tô Thị Lý.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Tạ Nhật Tân.

Bà Trần Thị Thanh Thủy.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Phương – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà:

Ông Nguyễn Trọng Thành Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 10 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thái Bình tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2019/HSST ngày 13 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2019/HSST – QĐ ngày 08 tháng 10 năm 2019 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Thanh, sinh năm 1965; nơi cư trú: thôn KX, xã ĐX, huyện TH, tỉnh Thái Bình; trình độ học vấn: 10/10; nghề nghiệp: lao động tự do; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Nguyễn Thị H (đều đã chết); có vợ là Trần Thị T và 02 con, con lớn sinh năm 1989, con nhỏ sinh năm 1994; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 11/5/2019 đến ngày 14/5/2019 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình ; có mặt.

* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phạm Thị Hồng T – Văn phòng luật sư PHL và cộng sự, Đoàn luật sư tỉnh Thái Bình.

* Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Ngọc S, sinh năm 1977

- Ông Hà Trung D, sinh năm 1952

Cùng cư trú tại: thị trấn TH, huyện TH, tỉnh Thái Bình.

(có mặt luật sư T; vắng mặt ông S, ông D).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền để chi tiêu cá nhân nên bị cáo Nguyễn Văn T nảy sinh ý định mua ma túy về bán kiếm lời. Khoảng 06 giờ 45 phút ngày 10/5/2019, bị cáo bắt xe khách DT đi từ thị trấn TH lên tỉnh LC với mục đích mua ma túy loại hêrôin. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo đến LC, sau đó tiếp tục đi xe taxi đến huyện BX (bị cáo không nhớ cụ thể ở địa điểm nào). Tại đây, bị cáo gặp một người đàn ông nhìn trông giống người nghiện, không biết tên tuổi, địa chỉ ở đâu, người này tự giới thiệu là người Trung Quốc biết nói Tiếng Việt; bị cáo hỏi mua 28.000.000 đồng tiền ma túy, người đàn ông đồng ý bán ma túy và bảo bị cáo đứng chờ. Khoảng 30 phút sau người đàn ông này quay lại, bị cáo đưa tiền, khi đếm đủ 28.000.000 đồng thì đưa cho bị cáo 01 gói nilon màu đen bên trong có chứa ma túy. Bị cáo nhận gói nilon người đàn ông đưa, cất vào túi quần bên phải phía trước đang mặc và đi xe ôm đến văn phòng xe khách BL ở thành phố LC để về Thái Bình. Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 10/5/2019, bị cáo lên xe khách về Thái Bình, đến 02 giờ 30 phút ngày 11/5/2019 về đến thị trấn TH, bị cáo xuống xe và đi bộ về nhà. Khi bị cáo đi đến khu vực trước cửa phòng khám TY thuộc phố HT, thị trấn TH, huyện TH thì bị lực lượng công an huyện TH phát hiện, yêu cầu về trụ sở Ủy ban nhân dân thị trấn TH để làm việc. Tại đây, trước sự chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương cùng anh Nguyễn Ngọc S và ông Hà Trung D đều trú tại thị trấn TH, huyện TH, bị cáo tự lấy trong túi quần bên phải phía trước đang mặc 01 gói nilon màu đen, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng ra giao nộp, bị cáo khai là hêrôin mục đích mua về bán kiếm lời. Ngoài ra bị cáo còn tự lấy trong túi quần bên trái phía trước đang mặc ra số tiền 13.500.000 đồng và giao nộp cho công an.

Cơ quan công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, lập biên bản quản lý và niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo Nguyễn Văn T tại thôn KX, xã ĐX, huyện TH, tỉnh Thái Bình không thu giữ gì.

Bản kết luận giám định số 151/KLGĐ- PC09 ngày 11/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận “Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine (Hêrôin), có khối lượng 32,4150 gam (ba mươi hai phẩy bốn nghìn một trăm năm mươi gam)”.

Bản cáo trạng số 36/CT ngày 12/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 3 điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã xác định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

Về hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 3, khoản 5 điều 251; điểm s khoản 1 + khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 15 năm đến 15 năm 06 tháng tù.

Phạt bổ sung bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng vụ án theo quy định.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình.

Luật sư bào chữa cho bị cáo tranh luận: Về tội danh, điều luật đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo, luật sư không có ý kiến gì. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo có nhân thân tốt, có thời gian tham gia quân đội; tại giai đoạn điều tra cũng như tại phiên toà đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, x khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, giúp bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở lại hòa nhập cộng đồng.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, luật sư bào chữa cho bị cáo không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã xác định. Ngày 10/5/2019 tại huyện BX, tỉnh LC bị cáo đã mua của một người đàn ông không quen biết 32,4150 gam hêrôin với giá 28.000.000 đồng mục đích mang về Thái Bình bán kiếm lời. Khoảng 02 giờ 30 phút ngày 11/5/2019 khi bị cáo về đến thị trấn TH, huyện TH, tỉnh Thái Bình thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện TH phát hiện bắt quả tang.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của những người làm chứng. Ngoài ra còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ như: biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an huyện TH, tỉnh Thái Bình lập hồi 02 TH; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an huyện TH lập hồi 04 giờ 25 phút ngày 11/5/2019; bản kết luận giám định số 151/KLGĐ- PC09 ngày 11/5/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa.

Hành vi mua 32,4150 gam hêrôin với mục đích bản kiếm lời của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm b khoản 3 điều 251 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy

1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

…

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm:

a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có khối lượng từ 01 kilôgam đến dưới 05 kilôgam;

b) Heroine, cocaine, Methamphetamin, Amphetamine, MDMA hoặc XLR – 11 có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam;

c) Lá cây côca; lá khát ( lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân, cành, hoa, quả của cây cần sa hoặc bộ phận của cây khác có chứa chất ma túy do Chính phủ quy định có khối lượng từ 25 kilôgam đến dưới 75 kilôgam;

d) Quả thuốc phiện khô có khối lượng từ 200 kilôgam đến dưới 600 kilôgam;

đ) Quả thuốc phiện tươi có khối lượng từ 50 kilôgam đến dưới 150 kilôgam;

e) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 100 gam đến dưới 300 gam;

g) Các chất ma túy khác ở thể lỏng có thể tích từ 250 mililít đến dưới 750 mililít;

h) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản này.

…

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Văn T là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, làm mất trật tự trị an xã hội, là nguồn gốc phát sinh các loại tội phạm khác, gây dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân. Bị cáo nhận thức được hậu quả nguy hiểm và tác hại khôn lường của ma tuý song vì ham lợi nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy cần áp dụng với bị cáo một mức hình phạt nghiêm minh tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo; có như vậy mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo đồng thời là bài học răn đe, phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Về tình tiết giảm nhẹ: tại các giai đoạn tố tụng bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

Với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo, trên cơ sở xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới đủ điều kiện để cải tạo bị cáo thành công dân tốt.

Khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự quy định khi người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự thì Hội đồng xét xử mới có căn cứ để xem xét quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Bị cáo Nguyễn Văn T chỉ được áp dụng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự do đó không có căn cứ để áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự đối với bị cáo như đề nghị của luật sư bào chữa cho bị cáo.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn Văn T thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy với mục đích thu lời bất chính do đó cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

Vật chứng vụ án:

- Cần tịch thu tiêu hủy khối lượng hêroin thu giữ của bị cáo do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình hoàn trả sau giám định.

- Đối với số tiền 13.500.000 đồng thu giữ của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai đây là số tiền trong tổng số tiền 150.000.000 đồng mà gia đình bị cáo vay của Ngân hàng Nông nghiệp chi nhánh ĐL – TH vào tháng 12/2018. Số tiền này không liên quan đến hành vi mua bán ma túy của bị cáo do đó cần trả lại bị cáo.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Văn T còn khai nhận: Trước ngày bị bắt khoảng 1 tháng, bị cáo cũng đi từ TH lên huyện BX, tỉnh Lào Cai gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy (hêrôin) giá 7.000.000 đồng sau đó mang về nhà cất giấu mục đích để bán, nhưng do không biết cách bảo quản nên số ma túy đó hỏng gần hết. Số ma túy còn lại chưa hỏng, bị cáo cất vào túi quần đang mặc đi bộ ra khu vực miếu Ba cô thuộc địa phận xã TN, huyện TH bán cho 01 người đàn ông không quen biết với giá 1.400.000 đồng song do trời tối nên bị cáo không nhớ được đặc điểm của người mua ma túy. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được người mua. Ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh nên không có căn cứ để xử lý.

- Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Văn T ở huyện BX, tỉnh Lào Cai, bị cáo khai không biết rõ họ tên, địa chỉ của người này ở đâu nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.

Về án phí; Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

V× c¸c lÏ trªn;

QuyÕt ®Þnh

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.

Hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 3, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 + khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 15 (mười lăm năm) tù, thời hạn tù tính từ ngày 11 tháng 5 năm 2019.

Phạt bổ sung bị cáo 10.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.

Xử lý vật chứng: Áp dụng 47 Bộ luật hình sự; điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 31,5752 gam hêroin đựng trong phong bì niêm phong ghi số 151/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình hoàn lại sau giám định.

- Trả lại bị cáo Nguyễn Văn T số tiền 13.500.000 đồng.

Số vật chứng trên đang được quản lý tại Cục thi hành án tỉnh Thái Bình theo biên bản giao nhận bảo quản tang vật, tài sản thi hành án và biên lai thu tiền số 0008744 ngày 13/9/2019.

Án phí: Áp dụng điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ