- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn Sơn - phạm tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ (điều 305 Luật sửa đổi, bổ sung…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn S phạm tội: "Tàng trữ trái phép vật liệu nổ".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 305 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2019/HS-ST Ngày: 14/11/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Hồng Hưng
Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phạm Thị Lan
2. Ông Lường Khắc Tiệp
Thư ký phiên toà: Ông Hà Thế Anh –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 41/2019/HSST ngày 25/10/2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2019/QĐXXST-HS ngày 31/10/2019 đối với.
Bị cáo: Bùi Văn S, tên gọi khác (Không), sinh ngày 10 tháng 6 năm 1987 tại huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Xóm M, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 02/12; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nan; Tôn giáo: Không; Quốc tịch:Việt Nam; Con ông: Bùi Văn Nh, sinh năm 1960 và bà Triệu Thị Ư, sinh năm 1963; Có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1987 và có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 11/7/2019, chuyển tạm giam ngày 20/7/2019. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Vũ Thị Hường trợ giúp viên pháp lý, thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hòa Bình. Bào chữa cho bị cáo Bùi Văn S. Có mặt .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 11/7/2019, Công an huyện Mai Châu và tổ công tác số 2 Công an tỉnh Hòa Bình phối hợp cùng công an xã T làm nhiệm vụ tại khu vực Xóm M, xã T, huyện M, tỉnh Hòa Bình đã bắt quả tang Bùi Văn S có hành vi tàng trữ ma túy. Đến 15 giờ cùng ngày thực hiện lệnh khám xét khẩn cấp về chỗ ở đối với Bùi Văn S. Công an huyện Mai Châu đã thu giữ 02 bao tải dứa bên trong có chứa các hạt tinh thể hình cầu màu trắng và chất bột màu trắng. Quá trình điều tra Bùi Văn S khai nhận vào khoảng tháng 9 năm 2018, khi Bùi Văn S đi chợ Phú Cường trở về nhà thì gặp nhóm công nhân đang làm đường tại khu vực xóm M, xã T. Tại đây có một người đàn ông tự xưng tên là B hỏi Bùi Văn S có nhu cầu mua thuốc nổ không. Do có nhu cầu cần phá đá để làm nền nhà mới nên Bùi Văn S đồng ý và cho địa chỉ chỗ ở của mình để B mang đến bán. Bùi Văn S đã mua 02 lần với tổng số tiền là 500.000 đồng, toàn bộ số thuốc nổ trên Bùi Văn S chưa sử dụng lần nào thì bị Công an huyện khám xét, thu giữ.
Tại Kết luận giám định số 4015/C09- P2 ngày 16/7/2019 của Viện khoa học Bộ công an kết luận: “… Các hạt tinh thể hình cầu, màu trắng đựng trong 01 bao tải dứa màu trắng đen, một mặt có chữ thuốc nổ ANFO là thuốc nổ công nghiệp ANFO thường dùng trong phá đá mở đường… Khối lượng thuốc nổ là 24,4 Kg( Hai mươi bốn phấy bốn Ki lô gam). Chất bột màu trắng đựng trong 01 bao tải dứa màu trắng đen là thuốc nổ công nghiệp ANFO, thường được dùng trong khai khoáng, mở đường…Khối lượng thuốc nổ là 2,6 Kg( Hai phẩy sáu Ki lô gam). Tổng khối lượng thuốc nổ công nghiệp ANFO trong 02 bao tải dứa là 27 kg( Hai mươi bảy Ki lô gam).”
Bản cáo trạng số 47/CT- VKS – P1 ngày 24/10/2019, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình đã truy tố Bùi Văn S về tội Tàng trữ trái phép vật liệu nổ, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 305 Bộ luật hình sự. Ngày 24/10/2019 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình đã ra quyết định số 13/QĐ-VKS-P1, phân công Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu thực hành quyền công tố, kiểm sát công tác xét xử vụ án hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 305; Điều 38; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối; bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức còn hạn chế và ở vùng đặc biệt khó khăn được qui định tại Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự: Xử phạt Bùi Văn S từ 05 đến 07 năm tù về tội Tàng trữ trái phép vật liệu nổ.
Về hình phạt bổ sung: Thể hiện gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn vợ ốm yếu, 02 con còn nhỏ nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 66 của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ.
- Đề nghị giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hòa Bình xử lý theo thẩm quyền.
Đề nghị áp dụng điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo công tác thi hành án.
Tại phiên tòa trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo có ý kiến: Về tội danh nhất trí như Viện kiểm sát huyện Mai Châu đã truy tố bị cáo về tội Tàng trữ trái phép vật liệu nổ, theo điểm b khoản 2 Điều 305 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng giảm nhẹ của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xem xét tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối; bị cáo là người dân tộc thiểu số, nhận thức còn hạn chế và ở vùng đặc biệt khó khăn; vợ yếu hai con nhỏ; trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt và là lao động chính các tình tiết này được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ các căn cứ trên tôi đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự xem xét cho bị cáo mức hình phạt thấp hơn so với đề nghị của Viện kiểm sát để bị cáo sớm trở về gia đình.
Các vấn đề khác đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Bùi Văn S nhất trí với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Mai Châu, Công an tỉnh Hòa Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiến nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo, tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra Bùi Văn S khai nhận về hành vi phạm tội như sau: Do có nhu cầu đánh mìn để san nền nhà nên tháng 9/2018 Bùi Văn S đã mua 02 bao tải thuốc nổ có khối lượng là 27 Kg của người không quen biết tên là B với giá 500.000 đồng. Sau khi mua được Bùi Văn S để trên gác bếp, chưa kịp sử dụng thì bị Công an huyện Mai Châu thu giữ. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản khám xét chỗ ở; biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu tạm giữ; Kết luận giám định; biên bản hỏi cung và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử đã có đầy đủ cơ sở kết luận: Bùi Văn S phạm tội Tàng trữ trái phép vật liệu nổ cụ thể. Tại điểm b khoản 2 Điều 305 Bộ luật hình sự quy định:
“ 1. Người nào chế tạo,tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.
b,Thuốc nổ các loại từ 10 ki lô gam đến 30 ki lô gam…”.
Như vậy bản cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát đối với bị cáo là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, HĐXX thấy rằng: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiên trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý vật liệu nổ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép vật liệu nổ là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo đã cố tình tàng trữ điều đó thể hiện bị cáo coi thường pháp luật.
Bản luật tội của Kiểm sát viên cũng như lời bào chữa mà trợ giúp viên pháp lý đề nghị. Hội đồng xét xử xét thấy cần chấp nhận tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc, nhận thức còn hạn chế sống trong vùng kinh tế khó khăn; sức khỏe của vợ bị cáo rất yếu, hai con còn nhỏ,các tình tiết này được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Không chấp nhận các tình tiết khác vì không có căn cứ pháp lý. Cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh và thẩm vấn công khai tại phiên tòa, thể hiện gia đình hoàn cảnh, bị cáo không có việc làm ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Về vật chứng của vụ án sau giám định còn lại khối lượng là 26,97 Kg thuốc nổ công nghiệp ANFO, xét thấy đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, nhưng còn giá trị sử dụng; nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 BLHS. Căn cứ khoản 3, khoản 5 Điều 66 của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ, cần giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hòa Bình xử lý theo quy định.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn S phạm tội: "Tàng trữ trái phép vật liệu nổ".
2.Về mức hình phạt: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 305; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Văn S 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 11/7/2019.
3.Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 3, khoản 5 Điều 66 Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ:
Tuyên tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 26,97 ki lô gam thuốc nổ công nghiệp ANFO. Giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh Hòa Bình xử lý theo quy định sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Vật chứng nêu trên được niêm phong trong 01 hộp cát tông dán kín có chữ ký của giám định viên Ngô Tuấn Anh và Điều tra viên Lường Văn Sơn. Bên trong có chứa 26,97 Kg thuốc nổ công nghiệp ANFO là vật chứng sau giám định, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/7/2019 giữa Công an huyện Mai Châu và Ban chỉ huy quân sự huyện Mai Châu.
3.Về án phí: Bị cáo Bùi Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000
đồng.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình để xin xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAT; - VKSND tỉnh HB; - Trại giam CA tỉnh HB; - Sở tư pháp tỉnh HB; - Bộ CHQS tỉnh HB; - Ban CHQS huyện MC; - VKSND huyện MC; - Công an huyện MC; - THA hình sự; - THA dân sự; - UBND xã T; - Lưu HS; - Lưu cặp án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Nguyễn Hồng Hưng |