vanban.org

Bản án 43/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam Tuyên án 23/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối

với bị cáo Lê Quý C. Tuyên bố bị cáo Mai Chí H và Lê Quý C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Mai Chi H và Lê Quý C phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" - điểm c k1 Đ249 BLHS - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Lu…"
  • Tòa quyết gì? 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 43/2019/HS-ST

Ngày: 23/08/2019

HUYỆN LÝ NHÂN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Quốc Huy. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lê Thị Thu Hiền; 2. Bà Trần Thị Ngọc. - Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hân- Thư ký Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Phạm Hồng Thanh - Kiểm sát viên. Ngày 23 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2019/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2019 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2019/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 8 năm 2019, đối với các bị cáo: 1. Mai Chí H, sinh năm 1988 tại Hà Nam; nơi cư trú: Thôn Q, xã V, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Văn H và bà Nguyễn Thị N; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: - Ngày 01/01/2011 bị đưa đi cai nghiện bắt buộc theo quyết định số 9546/QĐ-UBND ngày 30/12/2010 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện L, tỉnh Hà Nam. - Bản án số 140/2015/HS-ST ngày 25/6/2015 của Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội, xử phạt Mai Chí H 26 (Hai mươi sáu) tháng tù, về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 194 Bộ luật hình sự năm 1999; ngày 09/12/2016 chấp hành xong hình phạt tù. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2019 đến nay, có mặt. 2. Lê Quý C, sinh năm 1985 tại Hà Nam; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp

11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quý N (đã chết) và bà Phạm Thị X; có vợ là Mai Thị T và có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 17/3/2005 bị Công an thành phố P, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 100.000 đồng về hành vi “Đánh nhau” Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2019 đến nay, có mặt. * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường C, thành phố P, tỉnh Hà Nam, vắng mặt. * Người làm chứng: Anh Ngô Văn L và anh Lại Văn H, đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 11 giờ 10 phút ngày 26/5/2019, tại nhà của Mai Chí H ở Thôn Q, xã V, huyện L, tỉnh Hà Nam, Công an huyện L phối hợp với Công an xã V đến để yêu cầu H về trụ sở Ủy ban nhân dân xã V làm việc liên quan đến tình tình an ninh trật tự của địa phương thì gặp Lê Quý C đang ngồi uống nước cùng H tại bàn kê ngoài sân, phát hiện C có biểu hiện nghi vấn liên quan đến tội phạm ma túy nên yêu cầu kiểm tra hành chính đối với C. Quá trình kiểm tra, lực lượng Công an phát hiện trên mặt bàn uống nước tại chỗ C ngồi có 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone vỏ màu vàng và 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Masstel, bên dưới chiếc điện thoại nhãn hiệu Masstel có một mảnh giấy màu trắng trên mảnh giấy có chất bột màu trắng dạng cục, Lê Quý C khai là Herroin, C vừa xin được của H để sử dụng cho bản thân. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong số Hêroin trong phong bì ký hiệu QT01. Ngoài ra còn thu giữa của Lê Quý C 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone vỏ màu vàng, 01 điện thoại nhãn hiệu Masstel, số tiền 560.000 đồng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Dream biển kiểm soát 90F4 - 5640. Khám nhà của Mai Chí H thu giữ: 01 xi lanh nhựa đã qua sử dụng được niêm phong trong phong bì ký hiệu KX01, 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng; 01 gói giấy bạc bên trong có chất bột màu trắng dạng cục trong lọ nhựa để dưới gầm bàn uống nước kê ngoài sân, được niêm phong trong phong bì ký hiệu KX03, Mai Chí H khai là Heroin mua về để sử dụng cho bản thân. Tại bản kết luận giám định số 112/PC09-MT ngày 29/5/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam, kết luận: - Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy có khối lượng là 0,161gam, loại Heroin.

- Một xi lanh nhựa màu trắng loại 3ml trong phong bì ký hiệu KX01 gửi giám định có bám dính ma túy, loại Heroin. - Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu KX03 gửi giám định là ma túy có khối lượng là 0,198gam, loại Heroin. Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKSLN ngày 17/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đã truy tố Mai Chí H và Lê Quý C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa: - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân giữ nguyên cáo trạng truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự (Đối với H, C); khoản 2 Điều 51 (Đối với C), xử phạt bị cáo Mai Chí H từ 24 đến 30 tháng tù; xử phạt bị cáo Lê Quý C từ 18 đến 24 tháng tù. Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị các bị cáo. Đồng thời đề nghị xử lý vật chứng và án phí vụ án. - Các bị cáo Mai Chí H, Lê Quý C đều khai nhận hành vi phạm tội của mình, các bị cáo không tranh luận, bào chữa gì mà xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về tố tụng: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. [2] Về tội danh: Lời khai của bị cáo Mai Chí H và Lê Quý C tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 15 phút ngày 26/5/2019, tại nhà ở của Mai Chí H thuộc thôn Q, xã V, huyện L, tỉnh Hà Nam, Lê Quý C đã xin được của Mai Chí H 01 gói Heroin có khối lượng 0,161gam cất giữ để sử dụng trái phép thì bị Công an huyện L phối hợp với Công an xã V bắt quả tang. Khám xét khẩn cấp nơi ở của Mai Chí H, Công an thu giữ 01 gói Heroin có khối lượng 0,198gam để sử dụng trái phép. Bị cáo Mai Chí H cho bị cáo Lê Quý C 0,161gam Heroin để sử dụng nên bị cáo H phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng số Heroin là 1,359 gam. Bị cáo Lê Quý C chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về 0,161gam Heroin mà C tàng trữ để sử dụng.

Hành vi nêu trên của Mai Chí H và Lê Quý C đã phạm vào tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đã truy tố các bị cáo là có căn cứ pháp luật. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước. Các bị cáo có nhân thân xấu nên cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng tính chất hành vi phạm tội của từng bị cáo; cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới cải tạo được các bị cáo, đồng thời có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung. Vụ án có nhiều bị cáo tham gia, tuy nhiên không phân vị trí, hành vi cụ thể của từng bị cáo nên xác định đồng phạm giản đơn. Mai Chí H là người mua ma túy về cho Lê Quý C, bản thân cũng tàng trữ để sử dụng nên giữ vai trò chính trong vụ án; Lê Quý C là người nghiện ma túy, mục đích tàng trữ để sử dụng với lượng ma túy thấp trên mức khởi điểm truy cứu trách nhiệm hình sự nên Hiếu giữ vai trò đồng phạm. - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Lê Quý C có bố đẻ là ông Lê Quý N tham gia kháng chiến được tặng Huân chương, nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. [3] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo. [4] Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm Hêrroin và bơm kim tiêm được niêm phong trong 03 phong bì hoàn lại sau giám định. Đối với tài sản đã thu giữ của các bị cáo gồm 02 chiếc điện thoại, số tiền 660.000 đồng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định những tài sản đã thu giữ không liên quan đến tội phạm, nên trả lại cho các bị cáo. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu DREAM, biển kiểm soát 90F4-5640 thu giữ của Lê Quý C. Kết quả điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn H là cháu của bị cáo C, anh H cho C mượn xe nhưng không biết C đi mua ma túy sử dụng, nên xem xét trả lại chiếc xe trên cho anh H là phù hợp pháp luật. [5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật. [7] Về các vấn đề khác: Nguồn gốc số Heroine thu giữ, Mai Chí H khai mua của một người phụ nữ tên là H ở xã T, huyện B, tỉnh Hà Nam. Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng trên địa bàn xã T không có người nào tên H có đặc điểm như bị cáo khai. Ngoài lời khai của bị cáo không có tài liệu, chứng cứ nào khác, vì vậy không có căn cứ để xác minh làm rõ nguồn gốc số ma túy đã thu giữ cũng như người đã bán ma túy cho bị cáo để xử lý theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Quý C. Tuyên bố bị cáo Mai Chí H và Lê Quý C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. - Xử phạt bị cáo Mai Chí H 28 (Hai mươi tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 26/5/2019. - Xử phạt bị cáo Lê Quý C 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 26/5/2019. 2. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: - Tịch thu và tiêu huỷ 03 phong bì niêm phong số 112/PC09-MT của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam ghi mẫu vật hoàn trả QT01, KX01, KX03. - Trả lại bị cáo Mai Chí H số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn) đồng. - Trả lại bị cáo Lê Quý C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu vàng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel và số tiền 560.000đ (Năm trăm sáu mươi nghìn) đồng. Số tiền và tài sản đã tuyên trả lại cho bị cáo H và bị cáo C tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án dân sự. - Trả lại anh Nguyễn Văn H 01 xe mô tô nhãn hiệu DREAM, biển kiểm soát 90F4-5640. (Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L với Chi cục Thi hành án dân sự huyện L lập ngày 22/7/2019 và Ủy nhiệm chi số 10 ngày 23/7/2019). 3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/1016 của Uỷ

ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: - Buộc Mai Chí H và Lê Quý C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 4. Quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ