vanban.org

Bản án 43/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị Phương T được ly hôn với ông Hà Thanh T.

Về con chung: Giao cho bà Đặng Thị Phương T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con tên Hà Phương T, sinh ngày 10/01/2009 đến trưởng thành; ông Hà Thanh T được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Hà Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dang Thi Phuong T va Ha Thanh T"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị Phương T được ly hôn với ông Hà Thanh T.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MỸ XUYÊN
TỈNH SÓC TRĂNG
——————————

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 14-10-2019
“V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ XUYÊN, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhiện.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lương Minh Suốt;

2. Bà Lâm Thị Tám.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Xuyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Mỹ Xuyên tham gia phiên toà: Ông Đoàn Văn Khải - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 10 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện M, tỉnh S xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 162/2019/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 120/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đặng Thị Phương T, sinh năm 1985(Có mặt).

Địa chỉ: Số 149 đường T, ấp H, thị trấn M, huyện M, tỉnh S.

- Bị đơn: Ông Hà Thanh T, sinh năm 1979(Vắng mặt).

Địa chỉ: Số 188 đường T, ấp H, thị trấn, huyện M, tỉnh S.

Con chung: Hà Phương T, sinh ngày 10/01/2009;

Địa chỉ: Số 149 đường T, ấp Hòa Mỹ, thị trấn M, huyện M, tỉnh S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện về việc ly hôn ngày 14 tháng 3 năm 2019, tại phiên

tòa sơ thẩm hôm nay nguyên đơn bà Đặng Thị Phương T trình bày:

Bà và ông Hà Thanh T cưới nhau năm 2008 có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Mỹ Xuyên, huyện M, tỉnh S. Sau cưới vợ chồng cùng đi làm tại Thành Phố Hồ Chí Minh thời gian đầu ông bà sống hạnh phúc đến đầu năm 2012 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn thường hay cãi vã cùng nhau, mỗi lần cãi vã cùng nhau ông Thay dùng những lời lẽ xúc phạm đến bà, mặc dù bà đã cố gắng nhường nhịn nhưng ông Tvẫn không sửa đổi từ đó mất dần tình cảm vợ chồng đồng thời trong cuộc sống vợ chồng không có tiếng nói chung dẫn đến mất dần hạnh phúc từ đó bà với ông Tđã sống ly thân từ năm 2012 cho đến nay. Xét thấy, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Hà Thanh T.

Về con chung: Trong thời gian chung sống bà Đặng Thị Phương T và ông Hà Thanh T có 01 đứa con chung là tên Hà Phương T, sinh ngày 10/01/2009 hiện con đang sống cùng bà Đặng Thị Phương T. Sau khi ly hôn bà Đặng Thị Phương T yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu ông Tcấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nợ chung: Không có.

Đối với bị đơn ông Hà Thanh T: Toà án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, nhưng ông Hà Thanh T vắng mặt không có lý do cũng không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà Đặng Thị Phương T.

Đối với em Hà Phương T tại tờ tường trình ngày 20/9/2019 cũng như tại phiên tòa hôm nay em có nguyện vọng khi cha mẹ ly hôn không còn chung sống cùng nhau thì em sống cùng mẹ là bà Đặng Thị Phương T.

Tại phiên tòa hôm nay kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, xét xử vụ án thì thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; phía bị đơn chưa thực hiện và chấp hành đúng quy định pháp luật do vắng mặt không có lý do tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, phiên hòa giải; ông Hà Thanh T đã được cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, ông Tđã được triệu tập xét xử đến lần thứ hai nhưng ông vẫn vắng mặt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 tiến hành xét xử vắng mặt ông Hà Thanh T.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Đặng Thị Phương T được ly hôn với ông Hà Thanh T. Về con chung: Giao cho bà Đặng Thị Phương T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung tên Hà Phương T sinh ngày 10/01/2009;. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Ông Hà Thanh T đã được cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, ông Tđã được triệu tập xét xử đến lần thứ hai nhưng ông vẫn vắng mặt, áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông Hà Thanh T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị Phương T và ông Hà Thanh T cưới nhau năm 2008, ông, bà tự nguyện đăng ký kết hôn và được UBND thị trấn Mỹ Xuyên, huyện M, tỉnh S cấp giấy chứng nhận kết hôn số 45/2009 ngày 06/3/2009 nên quan hệ hôn nhân giữa bà Đặng Thị Phương T và ông Hà Thanh T là hôn nhân hợp pháp.

Xét lý do yêu cầu ly hôn của bà Đặng Thị Phương T, Hội đồng xét xử thấy rằng, sau khi kết hôn thì bà T, ông Tsống hạnh phúc được một thời gian thì đến năm 2012 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do trong cuộc sống vợ chồng ông Tthường hay kiếm chuyện cùng bà vô cớ đồng thời có những lời lẽ xúc phạm bà thậm chí ông Tcòn dùng bạo lực với bà nhiều lần mặc dù bà T đã cố gắng chịu đựng để duy trì cuộc sống hôn nhân để cùng ông Tlo cho gia đình cho con cái có cuộc sống đầy đủ nhưng không có kết quả mà ngược lại mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn dẫn đến bà T và ông Tkhông thể sống chung được nữa nên bà và ông Tđã sống ly thân từ năm 2012 cho đến nay. Hội đồng xét xử xét thấy hôn nhân giữa bà T và ông Tđã phát sinh mâu thuẫn, ông bà đã sống ly thân từ năm 2012 cho đến nay không thể hàn gắn được, từ đó cho thấy cuộc sống hôn nhân của bà T và ông Tkhông thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Đặng Thị Phương T.

Về con chung: Trong thời gian chung sống bà Đặng Thị Phương T và ông Hà Thanh T có 01 đứa con chung tên Hà Phương T, sinh ngày 10/01/2009 hiện con đang sống cùng bà Đặng Thị Phương T và bà T có nguyện vọng tiếp tục nuôi con không yêu cầu ông Tcấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, từ khi bà Đặng Thị Phương T và ông Hà Thanh T sống ly thân cùng nhau đến nay thì cháu Hà Phương T sống cùng với bà T. Tại phiên tòa bà T có nguyện vọng tiếp tục nuôi con đến trưởng thành, nhằm để ổn định tránh cuộc sống hiện tại của cháu Hà Phương T bị xáo trộn, không làm ảnh hưởng đến Tlý và ổn định việc học của cháu cũng như nguyện vọng của cháu Hà Phương T được sống cùng mẹ nên cần tiếp tục giao cháu Hà Phương T cho bà Đặng Thị Phương T được quyền tiếp tục nuôi con đến trưởng thành;

Về cấp dưỡng: Bà Đặng Thị Phương T không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Không có.

Lời đề nghị của kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí sơ thẩm áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bà Đặng Thị Phương T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 4 điều 147; điểm b, khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Đặng Thị Phương T được ly hôn với ông Hà Thanh T.

2. Về con chung: Giao cho bà Đặng Thị Phương T được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con tên Hà Phương T, sinh ngày 10/01/2009 đến trưởng thành; ông Hà Thanh T được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Ông Hà Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con.

4. Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu, nên không đặt ra xem xét;

5. Nợ chung: Không có.

6. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Đặng Thị Phương T phải chịu là 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008979 ngày 21/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện M, bà T đã nộp xong.

Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với các đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo được tính kể ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai nơi cư trú, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh S xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ