- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và nuôi con chung"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị D được ly hôn với ông Phạm Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2019/HNGĐ-ST Ngày 26-9-2019 V/v ly hôn và nuôi con chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LÂM- TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa : Ông Trần Văn Phi
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Châu Ngọc Thạch
Ông Lê Quý Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoa Kim Cúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lâm tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Dung – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 44/2019/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2019 về tranh chấp “Ly hôn và nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 8 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2019/QĐST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2019.
1. Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị D , sinh năm 1994; Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. (vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Phạm Thanh T, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 24 tháng 01 năm 2019 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị D trình bày:
Về yêu cầu ly hôn: Bà Huỳnh Thị D và ông Phạm Thanh T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã C ngày 17 tháng 01 năm 2013.
Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc. Đến tháng 6/2013 ông T phát hiện bị bệnh u não, mọi chi phí trong gia đình do bà D lo liệu. Đến năm 2016 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là vợ chồng bất đồng về quan điểm sống. Đến năm 2018 bà D đã về nhà cha mẹ ruột ở và vợ chồng không còn quan tâm tới nhau. Bà D nhận thấy không còn tình cảm, không muốn tiếp tục chung sống với ông T nên yêu cầu Tòa án cho ly hôn.
Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà Huỳnh Thị D và ông Phạm Thanh T có 01 con chung là Phạm Thái B, sinh ngày 06/6/2014, con chung hiện tại đang sống với bà D. Sau khi ly hôn bà D yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung; bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng cho con.
Về chia tài sản khi ly hôn: Bà Huỳnh Thị D không yêu cầu giải quyết.
Tại biên các bản lấy lời khai ông Phạm Thanh T trình bày:
Về yêu cầu ly hôn: Ông Phạm Thanh T và bà Huỳnh Thị D tự nguyện chung sống và kết hôn tại UBND xã C vào ngày 17/01/2013.
Trong quá trình chung sống với nhau vợ chồng không có mâu thuẫn gì, do ông T mắc bệnh u não nên bà D không muốn chung sống với ông T nữa. Từ tháng 12 năm 2018 bà D đã về nhà cha mẹ ruột ở xã C sống cho đến nay và không còn quan tâm tới ông T. Do vợ chồng không có mâu thuẫn gì nên ông T không đồng ý ly hôn.
Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Ông Phạm Thanh T và bà Huỳnh Thị D có 01 con chung là Phạm Thái B, sinh ngày 06/6/2014, con chung đang do bà D nuôi dưỡng. Nếu ly hôn ông T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung không yêu cầu bà D cấp dưỡng cho con.
Về tài sản chung: Ông Phạm Thanh T và bà Huỳnh Thị D không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ý kiến của Kiểm sát viên: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Ông Phạm Thanh T đang điều trị bệnh và khó khăn trong việc đi lại nên ông T đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bà Huỳnh Thị D có đơn đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về yêu cầu ly hôn: Bà Huỳnh Thị D và ông Phạm Thanh T tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND xã C ngày 17 tháng 01 năm 2013 theo Giấy chứng nhận kết số 01/2013 quyển 01/2010 nên quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình chung sống vợ chồng không hòa hợp nên thường xuyên kình cãi. Từ tháng 12 năm 2018 vợ chồng không còn chung sống với nhau. Bà D xác định không còn tình cảm với ông T; ông T không muốn ly hôn nhưng không có biện pháp gì để hàn gắn tình cảm với bà D. Hội đồng xét xử xét thấy tình trạng hôn nhân của bà D và ông T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà D.
Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Bà Huỳnh Thị D và ông Phạm Thanh T có 01 con chung là Phạm Thái B, sinh ngày 06/6/2014. Xét thấy con chung đang do bà D nuôi dưỡng, bà D có đủ điều kiện để chăm sóc con chung nên giao con chung cho bà D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; bà D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xét.
Về chia tài sản chung khi ly hôn: Bà Huỳnh Thị D và ông Phạm Thanh T không yêu cầu nên không xét.
Về án phí: Bà Huỳnh Thị D phải chịu án phí sơ thẩm về ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 56, 57, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Huỳnh Thị D được ly hôn với ông Phạm Thanh T.
2. Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung Phạm Thái B, sinh ngày 06/6/2014 cho bà Huỳnh Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; bà D không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, vì lợi ích của con khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con, không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.
3. Về chia tài sản khi ly hôn: Bà Huỳnh Thị D, ông Phạm Thanh T được quyền khởi kiện vụ án khác khi có yêu cầu.
4. Về án phí: Bà Huỳnh Thị D phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm về ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số AA/2016/0004716 ngày 27/3/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cam Lâm, bà D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn.
5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - - TAND tỉnh Khánh Hoà; - - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - - VKSND huyện Cam Lâm; - - Chi Cục THADS huyện Cam Lâm; - - UBND xã C; - - Các đương sự; - - Lưu án văn, hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Văn Phi |