vanban.org

Bản án 43/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Căn cứ vào: Điều 194; Điều 463; Điều 466; khoản 1 Điều 470; Điều 357; khoản 2 Điều 468; Điều 688 Bộ luật dân sự; Điều 27 luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 điều 228; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 B…

Buộc vợ chồng anh Nguyễn Duy T, chị Trần Thị N có nghĩa vụ trả anh Dương Ngô T tổng số tiền gốc là: 126.000.000đồng. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền được trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Anh Dương Ngô T đòi nợ anh Nguyễn Duy T"
  • Tòa quyết gì? * Căn cứ vào: Điều 194; Điều 463; Điều 466; khoản 1 Điều 470; Điều 357; khoản 2 Điều 468; Điều 688 Bộ luật dân sự; Điều 27 luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 điều 228; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 B…
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 194 Bộ luật Dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN YÊN
TỈNH BẮC GIANG
Bản án số: 43/2019/DS-ST
Ngày 27 tháng 12 năm 2019
----------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

V/v: “Tranh chấp Hợp đồng
vay tài sản”.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

----------------------

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

* Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông: Nguyễn Ánh Dương

* Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Lâm Giang.

2. Ông Đào Xuân Hải.

* Thư ký phiên toà: Ông Phạm Văn Nam – Thư ký Toà án nhân huyện Tân Yên.

* Đại diện VKSND huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 103/2019/TLST-DS, ngày 16/9/2019 về tranh chấp : “Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 223/2019/QĐXXST-DS ngày 27/11/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 155/2019/QĐST-DS ngày 12/12/2019 (Ấn định thời gian mở lại phiên tòa) giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Anh Dương Ngô T, sinh năm 1973(Có mặt)

Cư trú: Thôn Phú Hòa, xã H, huyện H, tỉnh B.

* Bị đơn:

- Anh Nguyễn Duy T, sinh năm 1963

(Vắng mặt)

Cư trú: Thôn Tân C, xã Đ, huyện T, tỉnh B.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Trần Thị N, sinh năm 1962

(Vắng mặt)

Cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh B.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 23/8/2019 và đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện ghi ngày 15/9/2019 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn anh Dương Ngô T trình bày:

Do có quan hệ quen biết nên anh Nguyễn Duy T có đặt vấn đề vay tiền của anh, cụ thể:

Ngày 05/5/2018 dương lịch anh Nguyễn Duy T có vay của anh số tiền 20.000.000đồng, hẹn đến ngày 31/10/2018 dương lịch thì trả hết gốc, anh T là người viết và ký vào giấy biên nhận vay tiền này.

Đến ngày 06/8/2018 dương lịch anh T vay tiếp số tiền là 130.000.000đồng, hẹn đến ngày 31/1/0/2018 dương lịch thì trả hết gốc, anh T là người viết và ký vào giấy biên nhận vay tiền này.

Cả hai lần vay tiền trên do quan hệ tình cảm nên anh không tính lãi.

Đến ngày 31/10/2018 anh đến đòi nợ anh T thì anh T viết giấy hẹn đến ngày 03/11/2018 dương lịch thì trả. Đến ngày 03/11/2018 dương lịch anh T không trả nợ cho anh.

Anh đến đòi nhiều lần không được. Đến tháng 01/2019 dương lịch chị Trần Thị N là vợ anh T mới trả cho anh được 10.000.000đồng. anh tiếp tục đòi nợ nhiều lần thì đến ngày 11/8/2019 chị Trần Thị N là vợ anh T mới trả tiếp cho anh được 14.000.000đồng.

Nay anh yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng anh Nguyễn Duy T, chị Trần Thị N trả nợ nốt số tiền là 126.000.000đồng. Anh không yêu cầu vợ chồng anh Nguyễn Duy T, chị Trần Thị N phải trả lãi.

Vợ anh là Lê Thị H không liên quan đến việc vay nợ trên và cũng không phải tài sản chung của vợ chồng anh nên đề nghị không đưa vào tham gia tố tụng.

Giữa anh và vợ chồng anh T, chị N không thỏa thuận được lãi suất chậm thi hành án.

* Bị đơn là anh Nguyễn Duy T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Trần Thị N đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng gồm: Thông báo về việc thụ lý vụ án số: 103/TB-TLVA, ngày 16/9/2019; Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu chứng cứ số: 57/QĐ-CCTLCC, ngày 11/10/2019; các giấy triệu tập; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải số: 103/TB-TA ngày 06/11/2019 (lần 01); Thông báo về phiên họp hòa giải số: 103/TB-TA ngày 12/11/2019 (lần 02); Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 223/QĐXXST-DS, ngày 27/11/2019; Quyết định hoãn phiên tòa số: 155/2019/QĐST-DS ngày 12/12/2019 đối với bị đơn là anh Nguyễn Duy T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Trần Thị N nhưng anh Nguyễn Duy T, chị Trần Thị N không làm việc với Tòa án về những vấn đề liên quan vụ án mà anh Nguyễn Duy T là bị đơn, chị Trần Thị N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Toà án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhiều lần nhưng anh Nguyễn Duy T là bị đơn, chị Trần Thị N không có mặt để tham gia. Các đương sự không thống nhất việc giải quyết vụ án. Nguyên đơn đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật. Các đương sự không có chứng cứ gì khác giao nộp cho Toà án.

Sau phần tranh luận, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được đảm bảo đúng quy định của pháp luật, anh T, chị N không chấp hành quy định của pháp luật và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng: khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 3 Điều 144 của BLTTDS; Điều 357; khoản 2 Điều 468; Điều 463; Điều 466 của BLDS; Điều 27 luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:

1. Buộc vợ chồng anh Nguyễn Duy T, chị Trần Thị N có nghĩa vụ trả anh Dương Ngô T tổng số tiền gốc là: 126.000.000đồng.

2. Về án phí: Buộc vợ chồng anh Nguyễn Duy T, chị Trần Thị N phải chịu 6.300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần 2 đối với anh Nguyễn Duy T, chị Trần Thị N vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt đương sự theo điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 điều 228 BLTTDS.

Quá trình giải quyết vụ án này thì các đương sự đã được tống đạt hợp lệ các Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ về yêu cầu cung cấp toàn bộ các giấy tờ liên quan việc thanh toán nợ, các tài liệu, chứng cứ liên quan đến tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa anh Dương Ngô T với vợ chồng anh Nguyễn Duy T, chị Trần Thị N và liên quan đến quyền, nghĩa vụ của đương sự trong vụ án nhưng anh Nguyễn Duy T, chị Trần Thị N không cung cấp tài liệu, chứng cứ nên anh T, chị N phải chịu hậu quả pháp lý.

Về quan hệ pháp luật: Nay anh Dương Ngô T kiện đòi vợ chồng anh Nguyễn Duy T, chị Trần Thị N có trách nhiệm trả tổng khoản tiền vay gốc 126.000.000 đồng tại giấy vay tiền ghi các ngày 05/5/2018 dương lịch, ngày 06/8/2018 dương lịch cho anh Dương Ngô T là quan hệ tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản, có kỳ hạn và không có lãi suất ".

Về thời hiệu khởi kiện: Anh Nguyễn Duy T ký nhận giấy vay nợ tiền của anh Dương Ngô T tại giấy vay tiền ghi các ngày 05/5/2018 dương lịch, ngày 06/8/2018 dương lịch. Anh T hẹn đến ngày 31/10/2018 dương lịch trả nợ, đến hẹn anh T đòi nợ anh T thì anh T viết giấy hẹn đến ngày 03/11/2018 dương lịch thì trả cả tiền gốc. Sau ngày 03/11/2018 dương lịch chị Trần Thị N là vợ anh T trả nợ tháng 01/2019 cho anh T được 10.000.000đồng; đến ngày 11/8/2019 chị Trần Thị N trả tiếp cho anh T được 14.000.000đồng. Như vậy việc khởi kiện của anh Dương Ngô T đối với giấy vay tiền ghi các ngày 05/5/2018 dương lịch, ngày 06/8/2018 dương lịch là nằm trong thời hiệu khởi kiện quy định tại Điều 429 Bộ luật dân sự.

Căn cứ khởi kiện của nguyên đơn là giấy vay tiền ghi các ngày 05/5/2018 dương lịch, ngày 06/8/2018 dương lịch có chữ viết, chữ ký của người vay là anh Nguyễn Duy T ký nhận vay tiền của anh Dương Ngô T.

Về nghĩa vụ trả nợ: Anh Nguyễn Duy T viết và ký nhận nợ từ ngày 05/5/2018 dương lịch đối với số tiền 20.000.000đồng, ký nhận nợ từ ngày 06/8/2018 dương lịch đối với số tiền 130.000.000đồng. Đều hẹn đến ngày 31/10/2018, sau đó lại hẹn đến ngày 03/11/2018 dương lịch thì trả cả tổng số tiền gốc 150.000.000đồng. Anh T cho vay không tính lãi suất. Đến tháng 01/2019 chị Trần Thị N vợ anh T đã trả nợ cho anh T được 10.000.000đồng; đến ngày 11/8/2019 chị Trần Thị N trả tiếp cho anh T được 14.000.000đồng.

Căn cứ vào chứng cứ là giấy vay nợ tiền có các khoản nợ trên phù hợp lời khai của anh T là người cho vay. Vợ chồng anh T, chị N đã được Tòa án yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ, nghĩa vụ chứng minh nhưng không xuất trình được chứng cứ chứng minh liên quan đến việc thanh toán nợ này nên có cơ sở xác định anh T là người giao dịch vay tiền nhưng chị N là vợ anh T đem tiền trả nợ cho anh T hai lần với tổng số tiền là 24.000.000đồng. Như vậy, chị N là người biết và thừa nhận nghĩa vụ trả nợ chung của vợ chồng là phù hợp Điều 27 luật Hôn nhân và gia đình về trách nhiệm liên đới về nghĩa vụ trả nợ cùng anh T. Số tiền gốc đến nay anh T, chị N còn nợ anh T là 126.000.000đồng chưa trả. Do vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T và buộc anh T, chị N liên đới trả nợ anh T tổng số tiền nợ gốc là 126.000.000 đồng là có cơ sở.

Về lãi suất của số tiền vay gốc: Do anh Dương Ngô T không yêu cầu anh T, chị N trả lãi nên không đặt ra xem xét.

Do các bên không thỏa thuận được về lãi suất sau khi bản án có liệu lực pháp luật nên cần áp dụng Điều 357, Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Anh T, chị N phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Căn cứ vào: Điều 194; Điều 463; Điều 466; khoản 1 Điều 470; Điều 357; khoản 2 Điều 468; Điều 688 Bộ luật dân sự; Điều 27 luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 điều 228; Điều 271; Khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:

1. Buộc vợ chồng anh Nguyễn Duy T, chị Trần Thị N có nghĩa vụ trả anh Dương Ngô T tổng số tiền gốc là: 126.000.000đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền được trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất là 10%/ năm tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

2. Về án phí: Buộc vợ chồng anh Nguyễn Duy T, chị Trần Thị N phải chịu 6.300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Anh Dương Ngô T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; hoàn trả lại cho anh Dương Ngô T 3.150.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo biên lai số: AA/2018/0005965 ngày 16/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ