vanban.org

Bản án 43/2019/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Gò Vấp, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 26/02/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S:

1. Buộc ông Tô Văn D có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S tiền nợ gốc là 34.512.066 đồng (Ba mươi bốn triệu năm trăm mười hai ngàn không trăm sáu mươi sáu đồng), lãi quá hạn tính đến ngày 26/02/2019 là 18.911.132 đồng (Mười tám triệu chín trăm mười một ngàn một trăm ba mươi hai đồng). Tổng cộng l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S:
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2019/DS-ST
Ngày: 26 - 02 - 2019
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Điệp.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Thành Viên;

Bà Lê Thị Thanh Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyến là Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Anna Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2019, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 327/2018/TLST-DS ngày 23/7/2018 về: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2019/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 01 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2019/QĐST-DS ngày 28 tháng 01 năm 2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; Trụ sở: đường N, Phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Trần Tâm Đ, sinh năm 1991 - là nhân viên Ngân hàng TMCP S (Giấy ủy quyền số 192/2018/ UQ-TTT ngày 03/12/2018).

- Bị đơn: Ông Tô Văn D, sinh năm 1976; Địa chỉ: đường T, Phường MM, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ông Trần Tâm Đ vắng mặt có đơn xin vắng mặt, ông Tô Văn D được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề ngày 21 tháng 6 năm 2018 của Ngân hàng TMCP S và quá trình giải quyết vụ án, ông Trần Tâm Đ là người đại diện của nguyên đơn trình bày: Ngày 20/3/2015 ông Tô Văn D có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng - Các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng), loại Thẻ tín dụng quốc tế Sacombank Visa. Căn cứ thu nhập của ông D, Ngân hàng đã đồng ý cấp Thẻ tín dụng quốc tế Sacombank Visa số thẻ 472074-8700 với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng, mục đích sử dụng là tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông D đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 55.579.118 đồng.

Trong quá trình sử dụng thẻ, kể từ ngày kích hoạt ông D đã thanh toán cho ngân hàng đến ngày 05/12/2017 với số tiền là 46.243.000 đồng thì ngưng (thứ tự thanh toán theo Điều 20 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng). Qua nhiều lần làm việc nhắc nhở nhưng ông D vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông D vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng) nên ngày 06/10/2017 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng).

Mặc dù Ngân hàng đã yêu cầu thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, tuy nhiên ông D vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.

Tính đến ngày 25/5/2018, ông D còn nợ các khoản sau: Nợ gốc: 34.512.066 đồng, lãi quá hạn: 8.634.432 đồng. Tổng cộng: 43.146.498 đồng.

Về tiền lãi: cách tính lãi được thực hiện theo thỏa thuận tại Điều 22 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng. Lãi suất hàng tháng do Ngân hàng quy định theo từng thời kỳ cụ thể, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất được công bố đối với toàn bộ dự nợ.

Nay, Ngân hàng TMCP S vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc cá nhân ông Tô Văn D phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc là: 34.512.066 đồng, lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sở thẩm 26/02/2019 là: 18.911.132 đồng. Tổng cộng: 53.423.198 đồng. Yêu cầu trả ngay một lần khi án có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, ông D còn phải thanh toán khoản lãi phát sinh đến khi trả hết số nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Tô Văn D đã được Tòa án tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án và triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không có mặt tại Tòa án để làm bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông D.

Tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn là ông Trần Tâm Đ vắng mặt có đơn xin vắng mặt, đã có bản tự khai phù hợp với đơn khởi kiện và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Bị đơn là ông Tô Văn D được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về xác minh, thu thập chứng cứ; cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng; quyết định đưa vụ án ra xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện Kiểm sát đúng thời hạn. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định về nội quy phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn không thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Nhận thấy yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Căn cứ hồ sơ vụ án thể hiện ông Tô Văn D có giao kết hợp đồng tín dụng (theo “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng” ký ngày 20/3/2015) với Ngân hàng TMCP S và được Ngân hàng phê duyệt ngày 04/4/2015. Do phía ông D vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nên xảy ra tranh chấp. Vì vậy, có cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại quận Gò Vấp, nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn ủy quyền cho ông Trần Tâm Đ làm người đại diện của nguyên đơn tham gia tố tụng tại Tòa án (Giấy ủy quyền số 917/2018/UQ-TTT ngày 21 tháng 6 năm 2018 và Giấy ủy quyền số 192/2018/UQ-TTT ngày 03 tháng 12 năm 2018), nên Tòa án triệu tập ông Trần Tâm Đ để tham gia tố tụng là đúng quy định.

Về sự vắng mặt của nguyên đơn: Ngày 02/01/2019 ông Trần Tâm Đ có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt ông, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về sự vắng mặt của bị đơn: Ông Tô Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Về yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn phải trả số tiền gốc là 34.512.066 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở xác định, ngày 20/3/2015 ông Tô Văn D có ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng loại thẻ tín dụng quốc tế Sacombank Visa số thẻ 472074-8700 với Ngân hàng TMCP S (theo “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng” do ông D ký ngày 20/3/2015) và đã được Ngân hàng phê duyệt với hạn mức sử dụng là 30.000.000 đồng) để tiêu dùng cá nhân. Theo Điều 2 của bản “Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S”, biên bản ký nhận thẻ và bản tóm tắt sao kê do nguyên đơn cung cấp, thể hiện bị đơn đã nhận được thẻ vào ngày 04/4/2015 và đã phát sinh giao dịch lần đầu vào ngày 05/4/2015. Trong quá trình sử dụng thẻ, ông D đã thanh toán cho Ngân hàng đến ngày 05/12/2017 với tổng số tiền là 46.243.000 đồng thì ngưng. Hiện ông D còn nợ số tiền gốc là 34.512.066 đồng, mặc dù được Ngân hàng nhiều lần nhắc nhở nhưng bị đơn vẫn không thanh toán cho Ngân hàng như đã thỏa thuận. Do bị đơn không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng là đã vi phạm thỏa thuận hợp đồng được quy định tại Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng nên Ngân hàng có quyền chấm dứt việc sử dụng thẻ và buộc bị đơn phải trả nợ là có cơ sở chấp nhận căn cứ vào Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.

Về tiền lãi: Theo thỏa thuận của hợp đồng thì ông D phải thanh toán cho Ngân hàng nợ gốc và lãi theo cách tính lãi quy định tại Điều 22 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng nhưng ông D không thực hiện nên Ngân hàng thông báo thu hồi nợ và chuyển toàn bộ số tiền nợ còn lại thành nợ quá hạn và tính lãi theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng, lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Tiền lãi phát sinh tính đến ngày xét xử sơ thẩm 26/02/2019 là 18.911.132 đồng theo bảng kê của nguyên đơn cung cấp là có cơ sở và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Quá trình giải quyết vụ án phía bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng tại phiên tòa hôm nay vẫn vắng mặt cho thấy bị đơn đã từ bỏ quyền chứng minh việc vi phạm hợp đồng, số tiền đã trả cũng như số tiền còn nợ cho Ngân hàng TMCP S.

Xét việc bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả toàn bộ số nợ trên một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là có cơ sở.

Về yêu cầu bị đơn tiếp tục trả tiền lãi phát sinh cho đến khi trả hết số nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng. Xét thấy yêu cầu này của nguyên đơn là phù hợp quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp về việc giải quyết vụ án là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Từ những phân tích, đánh giá như trên, Hội đồng xét xử thấy cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn ông Tô Văn D phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền còn nợ của thẻ tín dụng quốc tế Sacombank Visa số 472074-8700 bao gồm gốc và lãi quá hạn theo “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng” được Ngân hàng TMCP S phê duyệt ngày 04/4/2015.

Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Trả lại cho nguyên số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 389, Điều 401, Điều 405, Điều 471 và Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005; khoản 1 Điều 688 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 91 và Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S:

1.1. Buộc ông Tô Văn D có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP S tiền nợ gốc là 34.512.066 đồng (Ba mươi bốn triệu năm trăm mười hai ngàn không trăm sáu mươi sáu đồng), lãi quá hạn tính đến ngày 26/02/2019 là 18.911.132 đồng (Mười tám triệu chín trăm mười một ngàn một trăm ba mươi hai đồng). Tổng cộng là 53.423.198 đồng (Năm mươi ba triệu bốn trăm hai mươi ba ngàn môt trăm chín mươi tám đồng) phát sinh từ thẻ tín dụng quốc tế Sacombank Visa số 472074-8700 theo “Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm Hợp đồng” do ông Tô Văn D ký ngày 20/3/2015 được Ngân hàng TMCP S phê duyệt ngày 04/4/2015. Trả một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật;

1.2. Ông Tô Văn D còn phải trả tiền lãi phát sinh từ ngày 27/02/2019 theo lãi suất thỏa thuận sử dụng thẻ tín dụng trên số nợ gốc chưa trả tương ứng với thời gian chậm trả;

Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Về án phí:

2.1. Án phí dân sự sơ thẩm là 2.671.160 đồng (Hai triệu sáu trăm bảy mươi mốt ngàn một trăm sáu mươi đồng) do ông Tô Văn D chịu;

2.2. Trả lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.078.662 đồng (Một triệu không trăm bảy mươi tám ngàn sáu trăm sáu mươi hai đồng) theo Biên lai thu số 0029649 ngày 16/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ