vanban.org

Bản án 43/2018/HSST — Hình sự

TAND TP. Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình Tuyên án 10/07/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố : Bị cáo Phạm Minh Đ phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma

Áp dụng :Điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51, Điều 38 BLHS.Xử phạt bị cáo Phạm Minh Đ 12 ( Mười hai )tháng tù. Được trừ 06 ngày tạm giữ, còn lại 11 tháng 24 ngày. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Minh D phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy - Bị truy tố tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số đ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố : Bị cáo Phạm Minh Đ phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HOÀ BÌNH
TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2018 /HSST
Ngày 10 / 7 /2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

- Bà : Phạm Thị Nga

- Ông : Nguyễn Thị Lan

Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Mai Linh - Thư ký Toà án nhân dân thàn phố Hòa Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2018/HSST ngày 18 tháng 5 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48 /2018/QĐXXST-HS ngày25 tháng 6 năm 2018 đối với:

1. Bị cáo Phạm Minh Đ, sinh ngày28/11/1994

Nơi ĐKHKTT: tổ 26, phường P, thành phố H, tỉnh H

Nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: kinh ; Tôn

giáo: không ; Quốc tịch Việt Nam.

Con ông Phạm Văn Đ, sinh năm 1958; Con bà Lã Thị L, sinh năm 1959; vợ

Đào Thị Thùy L, sinh năm 1994; con Phạm Thái Ng, sinh năm 2016. Bị cáo là con thứ 2 trong gia đình có 2 chị em.

Tiền sự: Không.

Tiền án: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có

mặt tại phiên tòa.

2. Người liên quan:

- Chị Cao Thị Thu L, sinh năm 1999, vắng mặt

Trú tại: Tổ 18, phường Đồng Tiến, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình

3.Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Anh S, sinh năm 1970, vắng mặt Trú tại : Tổ 17, phường Đồng Tiến, thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 27/03/2018 Phạm Minh Đ đi ra khu vực chợ đường hầm tổ 08,

phường Tân Thịnh, thành phố Hòa Bình mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Tại đây Đ gặp một người đàn ông không quen biết , qua trao đổi Đ mua của người này 02 gói ma túy với giá 500.000đồng . Sau khi mua xong , Đức cất 02 gói ma túy trong túi sau bên phải quần đang mặc rồi đi về. Đến khoảng 13giờ ngày 28/3/2018, Đức cùng bạn gái là Cao Thị L gọi tắc xi đi chơi, khi đi Đức mang theo 02 gói ma túy cất trong túi quần bên phải . Khi đến khu vực gần sông vận động tỉnh Hòa Bình, L xuống xe đi việc riêng còn Đức vẫn tiếp tục ngồi trên xe đi tìm nơi sử dụng ma túy thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy phát hiện bắt quả tang về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy . 02 gói ma túy cất giấu trong túi quần của Phạm Minh Đ đã bị thu giữ.

Cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hòa Bình đã tiến

hành khám xét chỗ ở của Phạm Minh Đ , thu giữ 01 bộ cóng thủy tinh màu trắng trên nắp chai có ống hút nhựa màu đen và 01 hộp nhựa màu trắng bên trong có chứa các gói nilong màu trắng kích thước 1,5x1,5cm.

Tại biên bản kết luận giám định số 104/ KLGĐ –CAT-PC54 ngày 02/4/2018

của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận “ 02 mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong phong bì niêm phong ghi tên Phạm Minh Đ gửi giám định có tổng khối lượng 0,52gam( không phảy năm mươi hai gam) là chất ma túy loại Methamphetamine”

Bản Cáo trạng số: 51/ CT-VKS ngày 04/6/2018 của Viện kiểm sát nhân dân

thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình truy tố Phạm Minh Đức về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa, Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung và quyết định truy tố đối

với bị cáo Phạm Minh Đ về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s

khoản 1, Điều 51, Điều 38 BLHS Xử phạt bị cáo Phạm Minh Đức từ 12 đến15 tháng tù

Về vật chứng : A[a dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, tịch thu tiêu hủy

01( một) phong bì niêm phong vật chứng hoàn trả lại sau giám định ma túy mang tên Phạm Minh Đ , mép dán niêm phong có dấu tròn đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình

01 hộp nhựa màu trắng bên trong có chứa các gói nilong màu trắng kích

thước1,5x1,5cm

01 bộ cóng có đế thủy tinh màu trắng, bên trên có chai bằng nhựa màu trắng,

trên nắp chai có ống hút màu đen.

Trả lại bị cáo 01 điện thoại NOKIA màu xanh đen, số IMEL

357331080668245.

C¨n cø vµo c¸c chøng cø, tµi liÖu ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ; c¨n cø vµo kÕt

qu¶ tranh luËn vµ trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, bÞ c¸o vµ nh÷ng ng êi tham gia tè tông kh¸c.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an

thành phố Hòa Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Khoảng 13 giờ ngày 28/3/2018 Phạm Minh Đ cùng bạn gái

là Cao Thi Thu L gọi tắcxi Sông Đà đi chơi. Khi đi Đức mang theo 02 gói ma túy cất bên trong túi quần sau bên phảikhông cho ai biết. Khi đến khu vực gần sân vận động tỉnh Hòa Bình, Loan xuống xe đi việc riêng còn Đ vẫn ngồi trên xe. Khi đến khu vực xóm 13 xã S , Đức xuống xe đi tìm nơi sử dụng ma túy thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy kiểm tra, bắt quả tang về hành vi tàng trữ 02 gói ma túy.

Cùng ngày Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Hòa Binh khám xét

chỗ ở của Phạm Minh Đ, thu giữ 01 bộ cóng thủy tinh màu trắng trên nắp chai có ống hút nhựa màu đen và hộp nhựa màu trắng bên trong có chứa các gói ni long màu trắng kích thước 1,5 x1,5cm..

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với bản cáo trạng,cùng các tài liệu

chứng cứ phản ánh trong hồ sơ vụ án.

Tính chất, mức độ của hành vi: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy nên

ngày 27/3/2018 bị cáo đi tìm mua ma túy để sử dụng, khi mua được ma túy bị cáo cất giữ trong người đến 13 giờ ngày 28/3/2018 bị cáo mang số ma túy mua được tìm chỗ sử dụng thì bị tổ công tác điều tra tội phạm về ma túy phát hiện bắt quả tang. Số ma túy bị cáo cất giữ trong người có trọng lượng là 0,52gam lọai Methamphetamine”. Như vậy hành vi cất giữ 0,52gam lọai Methamphetamine trong người của bị cáo đã cấu thành tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 BKHS.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc

quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Tàng trữ chất gây nghiện nguy hiểm là mầm mống dẫn đến các tệ nạn xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nhưng đã có hành vi tàng trữ trái phép 0.52gma ma túy. Vì vậy cần phải xử phạt bị cáo về hình sự và phải có một mức án nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo thật thà khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết được giảm nhẹ cho bị cáo theo điểm s khoản 1, điều 51 BLHS.

Về vật chứng : áp dụng 47 BLHS, Điều 106BLTTHS tịch thu tiêu hủy

01( một) phong bì niêm phong vật chứng hoàn trả lại sau giám định ma túy mang tên Phạm Minh Đ , mép dán niêm phong có dấu tròn đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký của giám định viên.

01 hộp nhựa màu trắng bên trong có chứa các gói nilong màu trắng kích

thước1,5x1,5cm.

01 bộ cóng có đế thủy tinh màu trắng, bên trên có chai bằng nhựa màu trắng,

trên nắp chai có ống hút màu đen.

Chiếc điện thoại 01 điện thoại NOKIA màu xanh đen, số IMEL

357331080668245. Đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng máy là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu phát mại để sung công quỹ Nhà nước.

Tất cả các tang vật trên đã được bàn giao tại( biên bản giao nhận vật chứng số

51/BB ngày 3 / 7 /2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình)

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Tuyên bố : Bị cáo Phạm Minh Đ phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma

túy”

Áp dụng :Điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51, Điều 38

BLHS.Xử phạt bị cáo Phạm Minh Đ 12 ( Mười hai )tháng tù. Được trừ 06 ngày tạm giữ, còn lại 11 tháng 24 ngày. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.

2.Về vật chứng : áp dụng 47 BLHS, Điều 106BLTTHS tịch thu tiêu hủy 01(

một) phong bì niêm phong vật chứng hoàn trả lại sau giám định ma túy mang tên Phạm Minh Đ, mép dán niêm phong có dấu tròn đỏ của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình và chữ ký của giám định viên.

01 hộp nhựa màu trắng bên trong có chứa các gói nilong màu trắng kích

thước1,5x1,5cm.

01 bộ cóng có đế thủy tinh màu trắng, bên trên có chai bằng nhựa màu trắng,

trên nắp chai có ống hút màu đen.

Tịch thu phát mại để sung công 01 điện thoại NOKIA màu xanh đen, số

IMEL 357331080668245. Đã qua sử dụng không kiểm tra tình trạng máy.

Tất cả các vật chứng trên đã được bàn giao(Tại biên bản giao nhận vật chứng

số 51/BB ngày 03 / 7 /2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình.)

3. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a

khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Phạm Minh Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. 4. Về quyền kháng cáo: bị cáo Phạm Minh Đ được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm .

Cỡ chữ