- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43A/2018/HSST Ngày: 16/4/2018 | Hà Nội, ngày 16 tháng 4 năm 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Xuân Thắng
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan Ka
Bà Đỗ Thị Hằng Huệ
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Lan Hương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba
Đình, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội tham gia
phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 16/4/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Hà Nội; Toà án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2018/HSST ngày 26/3/2018 đối với bị cáo: Họ và tên: Nguyễn Văn M; Sinh ngày: 16/02/1982; HKTT & Nơi ở: A, phường P, quận B, Hà Nội; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 1/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Họ và tên bố: Nguyễn Văn N (đã mất); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị A (SN: 1954); Có 03 anh chị em, bị can là con thứ ba; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: 02 tiền sự và 04 tiền án đã được xóa: Ngày 26/11/1998, Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 06 tháng tù giam theo bản án số 294/ HSST về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân. Đã xóa án tích; Ngày 02/12/1998, Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 24 tháng tù giam theo bản án số 304/ HSST về tội Cướp tài sản của công dân. Đã xóa án tích; Ngày 22/7/2004, Tòa án nhân dân quận Ba Đình xử phạt 40 tháng tù giam theo bản án số 174/HSST về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 11/4/2007. Đã xóa án tích; Ngày 17/9/2007, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm 06 tháng tù giam theo bản án số 303/HSST về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Ra trại ngày 07/6/2013. Đã xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 29/12/2017, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 9h30’ ngày 29/12/2017, Nguyễn Văn M đi bộ từ nhà ra khu vực Bến xe buýt Long Biên để tìm mua ma túy về sử dụng. Tại đây, M gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi, cao 1,6m (không biết tên, địa chỉ) và hỏi mua ma túy. M đưa 100.000 đồng cho người đàn ông đó và nhận 01 gói heroin bọc ngoài bằng giấy vở học sinh. Khoảng 9h45’ cùng ngày, trên đường đi về nhà để sử dụng ma túy, khi đi đến cổng chợ Long Biên, đường Yên Phụ, phường Nguyễn Trung Trực, quận Ba Đình, Hà Nội thì M bị Tổ công tác Công an phường Nguyễn Trung Trực kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang, thu giữ tại túi áo phía trong bên trái của M 01 gói giấy vở học sinh, kích thước 1cm x 1cm bên trong là heroin có trọng lượng 0,21gam.
Bản kết luận giám định số 389 ngày 12/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội, kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 gói là ma túy loại Heroine, trọng lượng: 0,210 gam”.
Lời khai của Nguyễn Văn M phù hợp với lời khai người làm chứng, vật chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Về đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Văn M, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác M nhưng do M khai không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không đủ cơ sở để điều tra, xử lý.
Đối tượng bán mà túy cho M, cơ quan điều tra đã tiến hành xác M nhưng không xác định được lai lịch nên không có căn cử để xử lý.
Tại cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 16/3/2018, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố bị cáo M về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo M về tội tàng trữ trái phép chất ma túy như cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 3 Điều 7; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Căn cứ Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội; Xử phạt bị cáo M mức án từ 15 tháng đến 20 tháng tù; không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo. Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo và phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Ba Đình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu, biên bản niêm phong tang vật, kết luận giám định và phù hợp với các biên bản, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập được. Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố bị cáo về hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy là có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận những chứng cứ buộc tội của Viện kiểm sát và đề nghị của Kiểm sát viên về quan điểm giải quyết vụ án.
Những chứng cứ trên đã có đủ cơ sở xác định: Khoảng 9h30’ ngày 29/12/2017, Nguyễn Văn M đi bộ đến Bến xe buýt Long Biên mua 01 gói heroin giá 100.000đ của một người đàn ông không quen biết. Khoảng 9h45’ cùng ngày, trên đường đi về đến cổng chợ Long Biên, đường Yên Phụ, phường Nguyễn Trung Trực, quận Ba Đình thì M bị Tổ công tác Công an phường Nguyễn Trung Trực bắt quả tang, thu giữ tại túi áo phía trong bên trái của M 01 gói heroin có trọng lượng 0,21gam mục đích để sử dụng.
Hành vi phạm tội của bị cáo M là nguy hiểm cho xã hội, vì ma túy là chất gây nguy hại cho con người và cho xã hội, nó làm tha hóa đạo đức, lối sống, làm mất lý trí con người, làm tan vỡ nhiều hạnh phúc gia đình; đồng thời ma túy còn là mầm mống cho các loại tội phạm khác, như tội trộm cắp, tội cướp, cướp giật... Do vậy, nhà nước thống nhất quản lý và có chính sách tuyên truyền rộng khắp trên các phương tiện thông tin đại chúng để mọi người phòng tránh. Do vậy đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Khi lượng hình phạt: Xét bị cáo M là đối tượng có thân nhân xấu mặc dù đã được xóa án tích, tuy nhiên Cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã khai báo thành khẩn, nên để cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hình phạt bổ sung: Do bị cáo M không có nghề nghiệp ổn định nên xét không áp dụng phạt tiền làm hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Vật chứng của vụ án đã bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình gồm: 01 gói giấy vở học sinh, kích thước 1cm x 1cm bên trong là heroin có trọng lượng 0,21gam, đây là vật cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy theo điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 3 Điều 7; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015;
Áp dụng khoản 2 điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Xử phạt: Nguyễn Văn M 17 (mười bảy) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 29/12/2017.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) phong bì bên trong có ma túy heroin đã qua giám định, bên ngoài có chữ ký của cán bộ giám định và Nguyễn Văn M, theo biên bản bàn giao vật chứng số 58 ngày 19 tháng 3 năm 2018.
Bị cáo Nguyễn Văn M phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - TANDTP Hà Nội; - VKS nhân dân quận Ba Đình; - Chi cục THA quận Ba Đình; - Bị cáo; - Lưu VP, hồ sơ./. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Xuân Thắng |