- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn D cùng đồng bọn - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễ n Văn D , Nguyễ n Văn B 1, Nguyễ n Văn G ,
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| __________________________ Bản án số : 43/2018/HSST Ngày: 27/6/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễ n Đăng Dũ ng; Bà Nguyễn Thị Vân Thanh.
Thư ký Tò a án ghi biên bản phiên tò a: Ông Trần Văn Vũ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành tham gia phiên tò a :
Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiể m sát viên.
Hôm nay ngày 27/6/2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huy ện Thuận Thành,
tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 19/2018/HSST ngày 12/4/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/HSST- QĐ ngày 10/5/2018 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn D, sinh năm 1983
Nơi cư trú : Thôn Đ, xã N, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp:
Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Du (đã chết) và bà Phùng Thị Mười; Có vợ là Đỗ Thị Thảo và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2011
Tiền án, tiền sự: Chưa có
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2017 đến ngày 25/01/2018. Hiệ n
tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Văn B, sinh năm 1982
Nơi cư trú : Thôn Đ, xã N, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp:
Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Chiêm và bà Hoàng Thị Dư ; Có vợ là Nguyễ n Thị Thú y và có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2014
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân:
- Ngày 12/6/2003 bị Công an huyện Thuận Thành xử phạt hành chính về hành
vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hiện đã chấp hành xong
- Ngày 20/3/2009 bị Công an huyện Thuận Thành xử phạt hành chính về hành
vi đánh bạc. Hiện đã chấp hành xong.
- Tại bản án số 15 ngày 30/3/2011 bị TAND huyện Thuận Thành xử phạt 06
tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng về tội “đánh bạc”. Hiện đã chấp hành xong
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2017 đến ngày 28/12/2017. Hiệ n tạ i ngoạ i .
Có mặt tại phiên tòa.
3. Nguyễn Văn G, sinh năm 1984
Nơi cư trú : Thôn Đ, xã N, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp:
Lao động tự do; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Kinh; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Trườ ng và bà Hoàng Thị Mích; Có vợ là Trầ n Thị Xa và có 03 con, lớn nhấ t sinh năm 2007, nhỏ nhấ t sinh năm 2014.
Tiền sự: Không
Tiền án: có 01 tiền án. Tại bản án số 42/2017/HSST ngày 25/7/2017 bị TAND
huyện Thuận Thành xử phạt 04 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội “đánh bạc”. Hiện chưa chưa chấp hành xong.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/12/2017, hiện đang bị tạm giam tại Trại
tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
4. Nguyễn Văn H, sinh năm 1986
Nơi cư trú : Thôn Đ, xã N, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp:
Lao động tự do; Trình độ học vấn: 4/12; Dân tộc: Kinh; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Biệ t và bà Vũ Thị Tiếp; Có vợ là Đỗ Thị Thắm và có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017.
Tiền sự: Không
Tiền án: 01 tiền án. Tại bản án số 58/2017/HSST ngày 21/11/2017 bị TAND
huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 12 tháng tù giam về tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Hiện chưa chấp hành án.
Nhân thân:
- Ngày 01/7/2007, bị Công an huyện Thuận Thành xử phạt hành chính về hành
vi trộm cắp tài sản. Hiện đã chấp hành xong.
- Tại bản án số 50 ngày 24/11/2011 bị TAND huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc
Ninh xử phạt 09 tháng tù giam về tội “đánh bạc”. Chấp hành xong ra trại ngày 11/5/2012. Hiện đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/12/2017, hiện đang bị tạm giam tại Trại
tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
5. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1984
Nơi cư trú : Thôn Đ, xã N, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp:
Lao động tự do; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Kinh; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Sợ i và bà Nguyễ n Thị Vuố t ; Có vợ là Nguyễ n Thị Thu và có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân:
- Tại bản án số 50 ngày 24/11/2011 bị TAND huyện Thuận Thành xử phạt 06
tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng về tội “đánh bạc”. Hiện đã chấp hành xong.
- Tại Bản án số 33/2018/HSST ngà y 25/5/2018 của TAND huyệ n Thuậ n Thà nh
xử phạ t 08 tháng tù về tội Đánh bạc.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/12/2017 đến ngày 13/02/2018. Hiệ n
tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
6. Nguyễn Đức P, sinh năm 1993.
Nơi cư trú : Thôn L, xã N, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp:
Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đức Cương và bà Nguyễ n Thị Mai; Có vợ là Tạ Thị Thu Hằng và có 01 sinh năm 2013.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Tại Bản án số 33/2018/HSST ngà y 25/5/2018 của TAND huyệ n
Thuậ n Thà nh xử phạ t13 tháng tù về tội Tổ chứ c đánh bạc.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2017. Hiện đang bị tạm giam tại
Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
7. Nguyễn Văn C, sinh năm 1992.
Nơi cư trú : Thôn K, xã N, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp:
Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Hoà nh và bà Trần Thị Thủy ; Vợ , con: Chưa có .
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Tại bản án số 83 ngày 23/7/2013 bị TAND tỉnh Hưng Yên xử phạt
01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 11 tháng 10 ngày về tội “trộm cắp tài sản”. Hiện đã chấp hành xong.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/12/2017 đến ngày 28/12/2017. Hiệ n tạ i ngoạ i, có
mặ t tạ i phiên tò a.
8. Nguyễn Văn N, sinh năm 1991.
Nơi cư trú : Thôn Đ, xã N, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp:
Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Dư (đã chế t) và bà Lưu Thị Sòn; Vợ , con: Chưa có .
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Tại bản án số 01 ngày 16/01/2014 bị TAND huyện Thuận Thành
xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 17 tháng 12 ngày về tội “Hủy hoại tài sản”. Hiện đã chấp hành xong
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2017 đến ngày 28/12/2017. Hiệ n tạ i ngoạ i, có
mặ t tạ i phiên tò a.
9. Nguyễn Trung K, sinh năm 1987.
Nơi cư trú : Thôn Đ, xã N, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp:
Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông: Nguyễn Xuân Xu và bà Nguyễn Thị Chung; có vợ là Phùng Thị Dịu và có 02 con, lớ n sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2012.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2017 đến ngày 28/12/2017. Hiệ n tạ i ngoại, có
mặ t tạ i phiên tò a.
10. Nguyễn Văn Tr, sinh năm 1964
Nơi cư trú : Thôn Đ, xã N, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp:
Lao động tự do; Trình độ học vấn: 01/10; Dân tộc: Kinh; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Nhườ ng và bà Nguyễ n Thị Điệ n ( đều đã chết ); có vợ là Hoàng Thị Mích và có 03 con, lớ n nhấ t sinh năm 1984, nhỏ nhấ t sinh năm 1991.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2017 đến ngày 28/12/2017. Hiệ n tạ i ngoạ i, có
mặ t tạ i phiên tò a.
11. Nguyễn Văn B (tên gọi khác: T1), sinh năm 1990.
Nơi cư trú : Thôn Đ, xã N, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp:
Lao động tự do; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Sớ và bà Nguyễ n Thị Dôi; có vợ là Trị nh Thị Hà ; Con: Chưa có .
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/12/2017 đến ngày 28/12/2017. Hiệ n tạ i ngoạ i, có
mặ t tạ i phiên tò a.
12. Nguyễn Văn H, sinh năm 1971.
Nơi cư trú : Thôn Đ, xã N, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp:
Lao động tự do; Trình độ học vấn: 5/10; Dân tộc: Kinh; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Lượ ng và bà Nguyễ n Thị Lương; có vợ là Đoàn Thị Bích Ngọc và có 04 con, lớ n nhấ t sinh năm 1992, nhỏ nhấ t sinh năm 2004.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/12/2017 đến ngày 28/12/2017. Hiệ n tạ i ngoạ i, có
mặ t tạ i phiên tò a.
13. Nguyễn Văn M, sinh năm 1990.
Nơi cư trú : Thôn Đ, xã N, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp:
Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Kinh; Giớ i tí nh: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Tưở ng và bà Nguyễ n Thị Tấ n; Có vợ là Nguyễn Thị Thương và có 02 con, lớ n sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/12/2017 đến ngày 28/12/2017. Hiệ n tạ i ngoạ i, có
mặ t tạ i phiên tò a.
Ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan:
Chị Đỗ Thị T2, sinh năm 1990. (Có mặt).
Anh Nguyễ n Văn B1, sinh năm 1976. (Vắ ng mặ t).
Chị Tạ Thị H1, sinh năm 1972 (Vắ ng mặ t).
Tấ t cả đề u trú tạ i: Thôn Đ, xã N, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
NỘ I DUNG CỦ A VỤ Á N
Theo cá c tà i liệ u có trong hồ sơ vụ á n và diễ n biế n tạ i phiên tò a, nộ i dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Hồi 15 giờ 20 phút ngày 19/12/2017, tại Nghĩa trang Thôn Đ, xã N, huyện
Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Công an huyện Thuận Thành bắt quả tang một vụ đánh bạc trái phép dưới hình thức xóc đĩa sát phạt nhau bằng tiền, bắt giữ 08 đối tượng gồm: Nguyễn Trung K, Nguyễn Văn H, Nguyễn Văn Tr, Nguyễn Văn B (sinh năm 1982), Nguyễ n Văn B 1 (sinh năm 1976), Nguyễn Văn S, Nguyễn Đức P, Nguyễ n Văn N.
Tang vậ t thu giữ gồ m : Thu giữ tại nơi đánh bạc 01 bạt dứa, 01 đĩa sứ, 01 bát
sứ, 04 quân vị hình tròn, 01 tờ bảng vị được làm từ giấy vở men. Các đối tượng tự giác giao nộp trong người tổ ng số tiền là: 93.550.000 đồng. Ngoài ra, còn thu giữ 01 ví da màu đen đã qua sử dụng của Nguyễn Văn H.
Quá trình bắt giữ, các đối tượng Nguyễ n Văn D, Nguyễ n Văn C, Nguyễ n Văn
B (tên gọ i khá c là Tr ), Nguyễ n Văn Đ , Nguyễ n Văn M , Nguyễ n Văn H , Nguyễ n Văn G bỏ chạy.
Ngày 20/12/2017, Nguyễ n Văn D, Nguyễ n Văn C đến Công an huyện Thuận
Thành đầu thú. D tự nguyệ n giao nộ p số tiề n700.000đ, C tự nguyệ n giao nộ p số tiề n 6.500.000đ.
Ngày 21/12/2017, Nguyễ n Văn B (Tr) đến Công an huyện Thuận Thành đầu
thú.
Ngày 22/12/2017, Nguyễ n Văn M, Nguyễ n Văn Đ đến Công an huyện Thuận
Thành đầu thú. May tự nguyệ n giao nộ p số tiề n670.000đ.
Ngày 26/12/2017 Nguyễ n Văn G, Nguyễ n Văn H bị Cơ quan CSĐT Công an
huyệ n Thuậ n Thà nh bắ t tạ m giam.
Vớ i nộ i dung trên , tại bản cáo trạng số 22/CTr - VKS ngày 12/4/2018 của
Việ n kiể m sá t nhân dân huy ện Thuận Thành đã truy tố bị cáo Nguyễ n Văn D , Nguyễ n Văn B1 (sinh năm 1982), Nguyễ n Văn G, Nguyễ n Văn H, Nguyễ n Văn Đ, Nguyễ n Đứ c P, Nguyễ n Văn C, Nguyễ n Văn N, Nguyễ n Trung K, Nguyễ n Văn Tr, Nguyễ n Văn B (Tr), Nguyễ n Văn H, Nguyễ n Văn M về tội “Đánh bạc”, theo quy định tại điể m b khoản 2 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999.;
Tại phiên toà hôm nay các bị cáo đều thừa nhận nội dung bản cáo trạng truy
tố cá c bị cá o là đú ng , cách chơi và mức độ sát phạt nhau như bản cáo trạng nêu là chính xác.
Nguyễ n Văn D khai: Ngày 19/12/2017 bị cáo đi cùng với Nguyễ n Văn B1
(sinh năm 1982) đến Nghĩa trang thôn Đ, xã N để chơi đánh bạc ăn tiền dưới hình thứ c đá nh xó c đĩ a. Khi tham gia đánh bạc bị cáo có 1.800.000đ, bị cáo bỏ ra cho Giáp 100.000đ để Giáp canh gác, số tiền còn lại là 1.700.000 đồng, bị cáo sử dụng hết để đánh bạc. Trong quá trình chơi bị cáo là người xóc cái, trả tiền thắng thua cho các đối tượng chơi và bị cáo bị thua 1.000.000 đồng. Khi lực lượng Công an vào bắt bị cáo bỏ chạy. Đến ngày 20/12/2017 bị cáo đến Cơ quan điề u tra đầu thú và tự giác giao nộp số tiền 700.000đ.
Nguyễn Văn B khai: Ngày 19/12/2017, bị cáo lấy 01 bát sứ, 01 đĩ a sứ ở nhà
chị Tạ Thị H1 rồ i nhờ G cầ m hộ xuố ng Nghĩa trang thôn Điện Tiề n để chơi đánh bạc. Bị cáo và K là người lấy bạt dứa trải ra một thửa ruộng và lấy04 quân vị để cá c đố i tượ ng đá nh bạ c . Khi tham gia đá nh bạ c bị cá o có 200.000đ, bị cáo, bỏ ra cho Giáp 100.000đ để Giáp canh gác, còn 100.000đ bị cá o dù ng để đá nh bạ c và thua hế t. Sau đó bị cáo hỏi vay của Cảnh số tiền là 20.000.000đ để đá nh bạ c , Cảnh đồng ý và bảo Phương đưa tiền cho bị cáo. Phương đưa cho bị cáo 19.000.000đ và cắt phế 1.000.000đ. Bị cáo cầm tiền đang chuẩn bị tiếp tục đánh bạc thì bị Công an vào bắt quả tang. Bị cáo đút tiền vào trong túi áo bỏ chạy và bị rơi mất số tiền 19.000.000đ ở vị trí nào bị cáo không biết.
Nguyễn Văn G khai: Ngày 19/12/2017, B (sinh năm 1982) nhờ bị cá o cầ m
hộ 01 bát sứ, 01 đĩ a sứ ở nhà chị Tạ Thị H1 đến nghĩa trang thôn Điện Tiền để đánh bạc, bị cáo đồng ý. Quá trình đánh bạc các đối tượng đánh bạc cho bị cáo 500.000 đồng và bảo bị cáo đứng cảnh giới. Khi bị cáo đang canh gác thì có Nguyễn Văn B, sinh năm 1976 ở cùng thôn đến chỗ bị cáo, bị cáo cho B 100.000 đồng nhưng không nói gì. Khi Công an vào bắt quả tang bị cá o chạy thoát. Bị cáo đi về nhà chị Tạ Thị H1 trả chị H1 200.000đ mà trước đó bị cáo đã vay, số tiền còn lại bị cáo ăn tiêu cá nhân hết. Đế n ngà y 26/12/2017 bị cáo bị bắt giữ.
Nguyễn Văn H khai: Khi tham gia đá nh bạ c bị cá o có 300.000đ và sử dụng
toàn bộ số tiề n nà y để đánh bạc. Quá trình đánh bạc bị cá o thua hế t. Khi lực lượng Công an đến bắt quả tang, bị cáo bỏ chạy. Đế n ngà y 26/12/2017 bị cáo bị bắt giữ.
Nguyễn Văn Đ khai: Khi ngồi xem đánh bạc, bị cáo cầm 400.000đ ở dưới
bạt mà các đối tượng đánh bạc bỏ ra đưa cho Giáp để Giáp canh gác. Bị cáo có nhờ K đánh hộ 01 ván với số tiền là 100.000đ, bị cáo thắng, K đưa cho bị cáo 100.000đ. Sau đó bị cáo tiếp tục đưa cho K 100.000đ để K đánh hộ. Khi lực lượng Công an đến bắt quả tang, bị cáo bỏ chạy. Đế n ngày 22/12/2017 bị cáo đến Cơ quan điề u tra đầ u thú .
Nguyễn Đức P khai: Ngày 19/12/2017 bị cáo bảo C cầm 35.000.000đ đế n
nghĩa trang thôn Điện Tiền để cho các đối tượng vay tiền đánh bạc . Khi đế n nơi, C đưa tiề n cho bị cá o thì bị cá o có nó i vớ i C là nếu ai hỏi vay tiền thì bảo là tiền của C để sau này đòi cho dễ, C đồ ng ý . Sau đó bị cá o cho Trườ ng vay 10.000.000đ, cắt lại 500.000đ tiền lãi, bị cáo đưa cho Trường 9.500.000đ. C cho B vay 20.000.000đ, C đồ ng ý và bả o bị cáo cắt lại 1.000.000đ tiền lãi, bị cáo đưa cho B 19.000.000đ. Sau đó bị cáo đưa lại cho C 6.500.000 đồng là số tiền còn lại và số tiền cắt lãi do các đối tượng vay tiền. Quá trình các đối tượng chơi đánh bạc bị cáo đứng ở ngoài xem, sau đó N rủ P đánh chung tiền một ván, N thắng 800.000 đồng, N đưa cho bị cáo 400.000đ. Khi bị lực lượng Công an đến bắt quả tang, bị cáo tự giác giao nộp số tiền là 400.000đ.
Nguyễn Văn C khai: Bị cáo thừa nhận lời khai của P khai đú ng. Bị cáo
không tham gia đá nh bạ c cù ng cá c đố i tượ ng mà chỉ mang tiề n đế n đưa cho Phương để cho cá c đố i tượ ng vay để đá nh bạ c . Khi lực lượng Công an bắt quả tang, bị cáo bỏ chạy. Đế n ngà y 20/12/2017 bị cáo đến Cơ quan điề u tra đầ u thú và giao nộ p số tiền 6.500.000đ.
Nguyễn Văn N khai: Bị cáo là người chuẩn bị 01 tờ bảng vị làm từ tờ giấy
men để làm công cụ đánh bạc đồng thời Na cũng là người trả tiền thắng thua cho các đối tượng đánh bạc thông qua bảng vị. Khi tham gia đánh bạc bị cáo có 3.000.000đ, bị cáo cho Giáp 100.000đ để Giáp canh gác, số tiền còn lại bị cáo sử dụng để đánh bạc. Khi lực lượng Công an đến bắt quả tang bị cáo tự giá c giao nộ p số tiề n 3.150.000đ.
Nguyễn Trung K khai: Khi tham gia đánh bạc bị cáo mang theo
64.000.000đ nhưng bị cá o chỉ sử dụng 32.000.000đ để đánh bạc. Số tiền còn lại là 32.000.000đ bị cá o để trong áo khoác, không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Quá trình chơi, bị cáo thắng 3.000.000đ và Đ có nhờ K đánh hộ 01 ván 100.000đ, Đạo thắng và bị cáo đưa cho Đ 100.000đ rồ i Đ lạ i tiế p tụ c nhờ bị cá o đá nh hộ . Khi lực lượng Công an đến bắt quả tang bị cá o đã tự giác giao nộp số tiề n67.000.000đ.
Nguyễn Văn Tr khai: Khi tham gia đá nh bạ c bị cá o không mang theo tiề n .
Bị cáo có hỏi vay P 10.000.000đ để đánh bạc, P đồ ng ý và đưa cho bị cá o 9.500.000đ (cắt số tiền lãi 500.000đ). Quá trình đánh bạc bị cáo thua 700.000đ, đến khi Công an đến bắt quả tang, bị cáo đã tự giác giao nộp số tiề n8.800.000đ.
Nguyễn Văn B (Tr) khai: Khi tham gia đánh bạc bị cáo có 170.000đ, bị cáo
vay của M 30.000đ. Tổng số tiền bị cáo sử dụng đánh bạc là 200.000đ, quá trình chơi bị cáo bị thua hết số tiề n nà y. Khi lực lượng Công an đến bắt quả tang bị cá obỏ chạy, đến ngày21/12/2017bị cáo đến Cơ quan điều tra đầu thú.
Nguyễn Văn H khai: Khi tham gia đánh bạc bị cáo có 5.000.000đ, bị cáo
cho G 100.000đ để G canh gác. Bị cáo sử dụng 800.000đ để đá nh bạ c. Số tiề n cò n lại 4.100.000đ, bị cáo không sử dụng vào mục đích đánh bạc. Quá trình chơi bị cáo thua hết số tiền 800.000đ. Khi lực lượng Công an đến bắt quả tang bị cá otự giá c giao nộ p số tiề n4.100.000đ và 01 ví da màu đen.
Nguyễn Văn M khai: Khi tham gia đánh bạc có 1.700.000đ, bị cáo cho G
số tiền là 100.000đ để G canh gác cho mọi người chơi đánh bạc và cho B vay 30.000đ để đánh bạc. Số tiền còn lại là 1.570.000đ bị cá o sử dụng hết vào mục đích đánh bạc. Quá trình chơi bị cáo thua 900.000đ. Khi bị lực lượng Công an đến bắt quả tang, bị cáo bỏ chạy. Đế n ngà y 22/12/2017 bị cáo đến Cơ quan điều tra đầu thú và giao nộp số tiền 670.000đ.
Các bị cáo đều thừa nhận hành vi của mình l à phạm tội và xin được hưởng
sự khoan hồ ng củ a phá p luậ t.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Đỗ Thị T2 trình bày: Chị là vợ
của bị cáo D, tại Cơ quan điề u tra chị có đặt số tiền 10.000.000đ để đả m bả o cho bị cáo D đượ c tạ i ngoạ i. Bị cáo D đã chấ p hà nh đú ng quy đị nh củ a phá p luậ t. Nay chị đề nghị HĐXX cho chị xin lại số tiền này.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác có đơn xin vắng mặt và đề
nghị Toà án xử lý vật chứng, tài sản của họ có liên quan đến vụ án theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành
sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễ n Văn D , Nguyễ n Văn B1 (sinh năm 1982), Nguyễ n Văn G, Nguyễ n Văn H, Nguyễ n Văn Đ, Nguyễ n Đứ c P, Nguyễ n Văn C, Nguyễ n Văn N, Nguyễ n Trung K, Nguyễn Văn Tr, Nguyễ n Văn B (Tr), Nguyễ n Văn H , Nguyễ n Văn M phạm tội “Đánh bạc”, theo quy định tại điể m b khoản 2 Điều 248 Bộ luật hình sự;
Áp dụng điể m b khoản 2 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33
Bộ luậ t hì nh sự năm1999. Xử phạt: Nguyễ n Văn D từ 24 đến 26 tháng tù.
Áp dụng điể m b khoản 2 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33
Bộ luậ t hì nh sự năm1999. Xử phạt: Nguyễ n Văn B từ 26 đến 28 tháng tù.
Áp dụng điể m b kho ản 2 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; điể m g khoả n 1
Điề u 48; Điều 33; khoản 5 Điề u 60; Điề u 51 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999. Xử phạt: Nguyễ n Văn G từ 28 đến 32 tháng tù. Chuyể n 04 tháng tù nhưng cho hưởng án treo của Bản án số 42/2017/HSST ngà y 25/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Thuậ n Thành, tỉnh Bắ c Ninh thành án giam . Tổ ng hợ p hì nh phạ t buộ c bị cá o phả i chấ p hành chung cho cả hai bản án từ 32 đến 36 tháng tù.
Áp dụng điể m b kho ản 2 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; điể m g khoả n 1
Điề u 48; Điều 33; Điề u 51 Bộ luậ t hì nh sự năm1999. Xử phạ t: Nguyễ n Văn H từ 28 đến 32 tháng tù. Tổ ng hợ p vớ i 12 tháng tù giam về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của Bản án số 58/2017/HSST ngày 21/11/2017 của TAND huyện Yên Mỹ , tỉnh Hưng Yên buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai bản án từ 40 đến 44 tháng tù.
Áp dụng điể m b khoản 2 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33;
Điề u 51 Bộ luậ t hì nh sự năm1999. Xử phạ t:
Nguyễ n Văn Đ từ 26 đến 28 tháng tù. Tổ ng hợ p vớ i 08 tháng tù về tội Đánh bạc
của Bản án số 33/2018/HSST ngà y 25/5/2018 của TAND huyện Thuận Thành, tỉnh Bắ c Ninh, buộ c bị cá o phả i chấ p hà nh chung cho ca hai bả
̉ n á n từ 34 đến 36 tháng tù.
Nguyễ n Đứ c P từ 26 đến 28 tháng tù. Tổ ng hợ p vớ i 13 tháng tù về tội Tổ chức
đá nh bạ c củ a Bả n á n số 33/2018/HSST ngà y 25/5/2018 của TAND huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, buộ c bị cá o phải chấp hành chung cho cả hai bản án từ39 đến 41 tháng tù.
Áp dụng điể m b khoản 2 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60;
Bộ luậ t hì nh sự năm1999.
Xử phạ t: Nguyễ n Văn C, Nguyễ n Văn N, Nguyễ n Trung K, Nguyễ n Văn Tr,
Nguyễ n Văn B (Tr), Nguyễ n Văn H, Nguyễ n Văn M mỗ i bị cáo từ24 đến26 tháng tù nhưng cho hưở ng á o treo, thờ i gian thử thá ch tư48̀ đến52 tháng.
Về hì nh phạ t bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điề u 248 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999
phạt bổ sung mỗi bị cáo từ 03 đến 05 triệ u đồ ng sung quỹ Nhà nướ c.
Đạ i diệ n Việ n kiể m sá t cũ ng đề nghị áp dụng điều 41 Bộ luật hình sự năm
1999; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu sung công số tiền đánh bạc, trả lại tài sản cũ ng như tiêu hủ y tà i sả n.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
của pháp luật.
Sau khi bả n luậ n t ội của đại diện Viện kiểm sát , các bị cáo không tham gia
tranh luậ n mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra công khai tại phiên toà;
căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên toà; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, các bị cáo.
HỘ I ĐỒ NG XÉT XỬ NHẬ N ĐỊ NH
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt giữ
người có hành vi phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, tang vật thu được tại hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Nên có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng từ 14 giờ 30 phút đến 15 giờ 20 phút ngày ngày 19/12/2017 Nguyễ n Văn D, Nguyễ n Văn B1 (sinh năm 1982), Nguyễ n Văn G, Nguyễ n Văn H, Nguyễ n Văn Đ, Nguyễ n Đứ c P, Nguyễ n Văn C, Nguyễ n Văn N, Nguyễ n Trung K, Nguyễ n Văn Tr , Nguyễ n Văn B (Tr), Nguyễ n Văn H , Nguyễ n Văn M đã có hà nh vi đánh bạc bằng hình thức đánh xóc đĩa, sát phạt nhau bằng tiền tại khu vự c nghĩ a trang thôn Đ, xã N, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh thì bị bắt quả tang và thu giữ tang vậ t gồ m: 01 bạt dứa, 01 đĩa sứ, 01 bát sứ, 04 quân vị hình tròn, 01 tờ bảng vị được làm từ giấy vở men. Các đối tượng tự giác giao nộp trong người tổ ng số tiền là: 93.550.000 đồng. Ngoài ra sau khi bị bắt giữ và đầu thú các đối tượng giao nộ p tổ ng số tiề n 7.870.000đ. Như vậ y tổ ng số tiề n các đối tượng tự giác giao nộp tổng số tiền là 101.420.000 đồng. Trong đó xác định số tiền các đối tượng sử dụng vào mục đích đánh bạc là 75.070.000 đồng. Do vậ y hà nh vi củ a cá c bị cá o Nguyễ n Văn D, Nguyễ n Văn B1, Nguyễ n Văn G, Nguyễ n Văn H, Nguyễ n Văn Đ, Nguyễ n Đức P, Nguyễ n Văn C, Nguyễ n Văn N, Nguyễ n Trung K, Nguyễ n Văn Tr, Nguyễ n Văn Bù n, Nguyễ n Văn H, Nguyễ n Văn M phạm tội “Đánh bạc”, theo quy định tại điể m b khoản 2 Điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành đã truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã trực
tiếp đá nh bạ c sát phạt nhau bằng tiền, gây mất trật tự trị an trên địa bàn huyện Thuận Thành, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng. Đây là một trong những tệ nạn xã hội bị lên án, dư luận xã hội đòi hỏi phải xử lý nghiêm, do vậy cần phải có một hình phạt nghiêm nhằm giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét về tính chất của vụ án và vai trò của từng bị cáo trong vụ án thì thấy: Đây
là vụ án đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn . Các bị cáo không có sự phân công vai trò cụ thể mà đề u cù ng nhau tụ tập đánh bạc. Trong vụ á n nà y bị cáo D và B có vai trò chính, bị cáo D là người xóc cái và trả tiền thắng thua cho các đối tượ ng đá nh bạ c , bị cáo B là người chuẩn bị công cụ , phương tiệ n để phục vụ cho việc đánh bạc, bị cáo Phương làm Ngân hàng để cho các đối tượng vay tiền đánh bạc và đều trực tiếp tham gia đánh bạc . Bị cáo G, C không trự c tiế p tham gia đá nh bạc nhưng có vai trò là đồng phạm giúp sức. Còn các bị cá o khá c đều trự c tiế p tham gia đá nh bạc nên căn cứ vào vai trò của các bị cáo để buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm tương xứng về hành vi phạm tội của mình.
Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của
các bị cáo thì thấy:
Bị cáo D tuy không có tì nh tiế t tăng nặ ng, không có tiề n á n, tiề n sự , có nhân thân
tố t nhưng trong vụ á n nà y bị cáo vừa tham gia đánh bạc, vừ a là ngườ i xó c cá i và trả tiề n thắ ng thua cho cá c đố i tượ ng đá nh bạ c. Tuy nhiên trước cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hố i cả i, sau khi phạ m tộ i đã đế n Cơ quan điề u tra đầ u thú nên đượ c hưở ng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoả n 1, khoản 2 Điề u 46 Bộ luậ t hì nh sự.
Bị cáo B đã hai lầ n bị Công an huyệ n Thuậ n Thà nh xử phạ t hà nh chí nh và 01
lầ n bị Tò a á n xét xử về tội Đánh bạc đến nay đã được xóa án tích tuy được coi là không có tiề n á n, tiề n sự nhưng có nhân thân xấ u. Trong vụ á n nà y bị cáo vừa tham gia đá nh bạ c, vừ a là ngườ i chuẩ n bị công cụ , phương tiệ n cho cá c đố i tượ ng đá nh bạc. Bị cáo đượ c hưở ng tì nh tiế t giả m nhẹ là thà nh khẩn khai báo quy đị nh tạ i điể m p khoả n 1 Điề u 46.
Bị cáo G có 01 tiề n á n. Ngày 25/7/2017 bị TAND huyện Thuận Thành xử phạt
04 tháng tù cho hưở ng á n treo, thờ i gian thử thá ch12 tháng đến nay chưa được xóa án tích nên thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm g khoản 1 Điề u 48 Bộ luậ t hì nh sự . Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo quyđị nh tại điểm p khoản 1 Điề u 46 Bộ luậ t hì nh sự.
Bị cáo H có nhân thân xấu và có 01 tiề n á n. Năm 2007, bị Công an huyện
Thuận Thành xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản. Năm 2011 bị TAND huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 09 tháng tù giam về tội “đánh bạc”. Ngày 21/11/2017 bị TAND huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 12 tháng tù giam về tội “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Hiện chưa chấp hành án nên thuộ c trườ ng hợ p tá i phạ m quy đị nh tạ i điể m g khoả n1 Điề u 48 Bộ luậ t hì nh sự . Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo quyđị nh tại điểm p khoản 1 Điề u 46 Bộ luậ t hì nh sự.
Bị cáo Đạ o có nhân thân xấu. Năm 2011 bị TAND huyện Thuận Thành, tỉnh
Bắc Ninh xử phạt 06 tháng cho hưở ng á n treo về tội Đá nh bạ c (Đã chấ p hà nh xong). Ngày 29/9/2017 bị Công an tỉnh Bắc Ninh khởi tố về tộ
i Đá nh bạ c , đến ngày 25/5/2018 bị TAND huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 08 tháng tù về tội Đá nh bạ c. Đế n nay bả n á n đã có hiệ u lự c phá p luậ t nên cầ n tổ ng hợ p buộ c bị cá o phải chấp hành hình phạt tù của cả hai bả n á n. Tuy nhiên trước cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, sau khi phạ m tộ i đã đế n Cơ quan điề u tra đầ u thú nên đượ c hưở ng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm p khoản1, khoản 2 Điề u 46 Bộ luật hì nh sự .
Bị cáo Phương chưa có tiề n á n, tiề n sự nhưng có nhân thân xấ u. Ngày 29/9/2017
bị Công an tỉnh Bắc Ninh khởi tố về tội Đánh bạc , đến ngày 25/5/2018 bị TAND huyệ n Thuậ n Thà nh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 13 tháng tù về tộ i Tổ chứ c đ ánh bạc. Đế n nay bả n á n đã có hiệ u lự c phá p luậ t nên cầ n tổ ng hợ p buộ c bị cá o phả i chấ p hành hình phạt tù của cả hai bản án . Bị cáo đượ c hưở ng tì nh tiế t giả m nhẹ thành khẩn khai báo nên quy đị nh tạ i điểm p khoả n1 Điề u 46 Bộ luậ t hì nh sự.
Bị cáo C, bị cáo Nghĩa không có tì nh tiế t tăng nặ ng trá ch nhiệ m hì nh sự
nhưng ngày 23/7/2013 bị cáo C bị TAND tỉnh Hưng Yên xử phạt 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 11 tháng 10 ngày về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo Nghĩa năm 2014 bị TAND huyện Thuận Thành xử phạt 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội Hủy hoại tài sản. Đế n nay cá c bị cá o đượ c coi là không có tiề n á n, tiề n sự nhưng có nhân thân xấ u. Tuy nhiên trước cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo nên đượ c hưở ng tình tiết giảm nhẹ quy đị nh tạ i điể m p khoả n1 Điề u 46 Bộ luậ t hì nh sự.
Bị cáo K, Tr, H không có tì nh tiế t tăng nặ ng trá ch nhiệ m hì nh sự, không có tiề n
án, tiề n sự , có nhân thân tốt . Các bị cáo đượ c hưở ng tì nh tiế t giả m nhẹ là thà nh khẩ n khai bá o, ăn năn hố i cả i quy đị nh tạ i điể m p khoả n1 Điề u 46 Bộ luậ t hì nh sự.
Bị cáo B, M không có tì nh tiế t tăng nặ ng trá ch nhiệ m hì nh sư, không cọ
́ tiề n á n, tiề n sự , có nhân thân tốt. Các bị cáo đều thành khẩn khai báo , ăn năn hố i cả i , sau khi phạ m tộ i đã đế n cơ quan điề u tra đầ u thú nên đượ c hưở ng tì nh tiế t giảm nhẹ quy đị nh tạ i điể m p khoả n1, khoản 2 Điề u 46 Bộ luậ t hì nh sự.
Trong thờ i gian chuẩ n bị xé t xử cá c bị cá o Nguyễ n Đứ c P , Nguyễ n Văn D ,
Nguyễ n Văn B1, Nguyễ n Văn Tr, Nguyễ n Văn M, Nguyễ n Văn Bù n, Nguyễ n Văn N, Nguyễ n Văn Đ, Nguyễ n Văn C , Nguyễ n Trung K, Nguyễ n Văn H đã nộp một khoản tiền vào cơ quan Thi hành án, thể hiện sự ăn năn hối cải nên cá c bị cá o đượ c hưở ng tì nh tiế t giả m nhẹ quy đị nh tạ i khoả n 2 Điề u 46 Bộ luậ t hì nh sự .
Từ sự phân tích trên đây, Hội đồng xét xử thấy cầ n phả i cá ch ly cá c bị cá o
Nguyễ n Văn D, Nguyễ n Văn B1, Nguyễ n Văn G, Nguyễ n Văn H, Nguyễ n Văn Đ, Nguyễ n Đứ c P ra khỏ i xã hộ i một thời gian nhấ t đị nh để giáo d ục, cải tạo cá c b ị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội. Tuy nhiên khi lượ ng hì nh cầ n căn cứ và o cá c tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo để xem xét , giảm nhẹ một phầ n hì nh phạ t cho cá c bị cá o.
Đối với các bị cá o Nguyễ n Văn C, Nguyễ n Văn N, Nguyễ n Trung K, Nguyễ n
Văn Tr, Nguyễ n Văn Bù n , Nguyễ n Văn H , Nguyễ n Văn M ngoài những tình tiết giảm nhẹ đã nêu , các bị cáo đều có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng nên không c ần phải cách ly ra khỏi xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ giáo dục, cải tạo các bị cáo.
Ngoài việc áp dụng hình phạt chính đối với các bị cáo, khi quyết định hình
phạt cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt các bị cáo một khoản tiền để sung công quỹ nhà nước mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo.
Đối với số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc cần tịch thu sung quỹ Nhà nước
theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Đối với số tiền 500.000đ mà cá c bị cá o cho Nguyễ n Văn G. Xét thấy đây là só
tiề n hưở ng lợ i bấ t chí nh nên cầ n truy thu sung quỹ Nhà nướ c.
Đối với số tiền do cá c bị cá o tự giá c giao nộ p cho Cơ quan điề u tra , cụ thể:
Nguyễ n Trung K 32.000.000đ; Nguyễ n Văn H 4.100.00đ. Xét thấy số tiền này không liên quan đến hành vi phạm tội của cá c bị cá o nên cầ n trả lạ i số tiề n nà y cho các bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với 01 chiế c ví da màu đen thu của H. Xét thấy không liên quan đ ến hà nh
vi phạ m tộ i củ a cá c bị cá o nên cầ n trả lạ i cho các bị cáo.
Đối vớitiề n100.000 của anhNguyễ n Văn B1 giao nộ p cho Cơ quan điề u tra nhưng
anh B không đề nghị xin lạ i do vậ y cầ n sung quỹ Nhà nươ. ́ c
Đối với số tiền10.000.000đ do anh Nguyễ n Văn Sì n giao nộ p cho Cơ quan điề u tra.
Qua xá c minh không liên quan đế n hà nh vi phạ m tộ i củ a cá c bị cá o nên Cơ quan điề u tra đã trả lạ i choanh Sì n là phù hợp.
Đối với số tiền 10.000.000đ củ a chị Đỗ Thị T2 dùng để bảo đảm thay thế biện
pháp ngăn chặn của các bị cá o D nay cầ n hoà n trả cho chị Thảo.
Đối với 01 chiế c bá t sứ , 01 chiế c đĩ a sứ cá c bị cá o lấ y ở nhà chị Tạ Thị H1,
chị Hưng không biết. Do không có giá trị nên chị Hưng không yêu cầ u xin lạ i nên cầ n tị ch thu tiêu hủ y.
Về vật chứng: Số vật chứng của vụ án chưa xử lý, nay xử lý như đề nghị của
đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay là có căn cứ.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố các bị cáo Nguyễ n Văn D , Nguyễ n Văn B 1, Nguyễ n Văn G ,
Nguyễ n Văn H , Nguyễ n Văn Đ , Nguyễ n Đứ c P , Nguyễ n Văn C , Nguyễ n Văn N , Nguyễ n Trung K, Nguyễ n Văn Tr , Nguyễ n Văn B (Tr), Nguyễ n Văn H , Nguyễ n Văn M phạm tội Đánh bạc.
Áp dụng điể m b khoản 2 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33
Bộ luậ t hì nh sự năm1999. Xử phạ t: Nguyễ n Văn D 25 (Hai mươi lăm) tháng tù. Thờ i hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án , đượ c trừ đi thờ i hạ n tạ m giữ tạ m giam từ ngà y 20/12/2017 đến ngày 25/01/2018
Áp dụng điể m b khoản 2 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 33
Bộ luậ t hì nh sự năm1999. Xử phạ t: Nguyễ n Văn B 27 (Hai mươi bẩ y) tháng tù. Thờ i hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án , đượ c trừ đi thờ i hạ n tạm giữ tạm giam từ ngày 19/12/2017 đến ngày28/12/2017.
Áp dụng điể m b kho ản 2 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; điể m g khoả n 1
Điề u 48; Điều 33; khoản 5 Điề u 60; Điề u 51 Bộ luậ t hì nh sự năm1999. Điề u 329 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự năm 2015. Xử phạ t: Nguyễ n Văn G 28 (Hai mươi tá m) tháng tù. Chuyể n 04 tháng tù nhưng cho hưởng án treo củ a Bả n á n số 42/2017/HSST ngà y 25/7/2017 của Tòa án nhân dân huyện Thuậ n Thà nh, tỉnh Bắ c Ninh thành án giam. Tổ ng hợ p hì nh phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai bản án là 32 (Ba mươi hai). Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2017, đượ c trừ thờ i gian tạ m giữ , tạm giam từ ngà y 24/01/2017 đến ngày 03/03/2017. Tiế p tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Áp dụng điể m b kho ản 2 Điều 248; điểm p khoản 1 Điều 46; điể m g khoả n 1
Điề u 48; Điều 33; Điề u 51 Bộ luậ t hì nh sự năm1999. Điề u 329 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự năm 2015. Xử phạ t: Nguyễ n Văn H 28 (Hai mươi tá m) tháng tù. Tổ ng hợ p vớ i 12 tháng tù giam về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có của Bản án số 58/2017/HSST ngà y 21/11/2017 của TAND huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai bả n á n là 40 (Bố n mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/12/2017. Tiế p tục tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
Áp dụng điể m b khoản 2 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33;
Điề u 51 Bộ luậ t hì nh sự năm1999. Xử phạ t: Nguyễ n Văn Đ 26 (Hai mươi sá u) tháng tù. Tổ ng hợ p vớ i 08 (tám) tháng tù về tội Đánh bạc của Bản án số 33/2018/HSST ngày 25/5/2018 bị TAND huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh buộ c bị cá o phả i chấp hành chung cho cả hai bản án là 34 (Ba mươi tư) tháng tù. Thờ i hạ n tù tí nh từ ngà y bắ t thi hà nh á n, đượ c trừ đi thờ i hạ n tạ m giữ tạ m giam từ ngà y 22/12/2017 đến ngày 13/02/2018.
Áp dụng điể m b khoản 2 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33;
Điề u 51 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999. Điề u 329 Bộ luậ t tố tụ ng hì nh sự năm 2015. Xử phạt: Nguyễ n Đứ c P 26 (Hai mươi sá u) tháng tù. Tổ ng hợ p vớ i13 (Mườ i ba) tháng tù về tộ i Tổ chứ c đá nh bạ c củ a Bả n á n số 33/2018/HSST ngày 25/5/2018 bị TAND huyệ n Thuậ n Thà nh, tỉnh Bắc Ninh buộ c bị cá o phả i chấ p hà nh chung cho cả hai bả n án là 39 (Ba mươi chí n) tháng tù. Thờ i hạ n tù tí nh từ 19/12/2017. Tiế p tụ c tạ m giam bị cáo 45 ngày kể từ ngà y tuyên á n để đả m bả o thi hà nh á n.
Áp dụng điể m b khoản 2 Điều 248; điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60
Bộ luậ t hì nh sự năm1999. Xử phạ t:
Nguyễ n Văn C 26 (Hai mươi sá u) tháng tù cho hưởng án treo , thờ i gian thử
thách 52 (Năm mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nguyễ n Văn N 26 (Hai mươi sá u) tháng tù cho hưởng án treo , thờ i gian thử
thách 52 (Năm mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nguyễ n Trung K 26 (Hai mươi sá u) tháng tù cho hưở ng á n treo , thờ i gian thử
thách 52 (Năm mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nguyễ n Văn Tr 24 (Hai mươi bố n) tháng tù cho hưởng án treo , thờ i gian thử
thách 48 (Bốn mươi tá m) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩ m.
Nguyễ n Văn Bùn 24 (Hai mươi bố n) tháng tù cho hưởng án treo , thờ i gian thử
thách 48 (Bố n mươi tá m) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nguyễ n Văn H 24 (Hai mươi bố n) tháng tù cho hưởng án treo , thờ i gian thử
thách 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nguyễ n Văn M 24 (Hai mươi bố n) tháng tù cho hưởng án treo , thờ i gian thử
thách 48 (Bố n mươi tá m) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo Nguyễ n Văn C, Nguyễ n Văn N, Nguyễ n Trung K, Nguyễ n Văn
Tr, Nguyễ n Văn Bù n, Nguyễ n Văn H, Nguyễ n Văn M cho UBND xã Nguyệ t Đứ c, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại
khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Về hì nh phạ t bổ sung :Áp dụng khoản 3 Điề u 248 Bộ luậ t hì nh sự năm 1999
phạt bổ sung các bị cáo Nguyễ n Văn D, Nguyễ n Văn B1, Nguyễ n Văn G, Nguyễ n Văn H, Nguyễ n Văn Đ , Nguyễ n Đứ c P , Nguyễ n Văn C , Nguyễ n Văn N , Nguyễ n Trung K, Nguyễ n Văn Tr, Nguyễ n Văn Bù n, Nguyễ n Văn H, Nguyễ n Văn M mỗ i bị cáo 3.000.000đ (Ba triệ u đồ ng) sung quỹ Nhà nướ c.
Xác nhận bị cá o Nguyễ n Đứ c P đã nộp 3.200.000đ theo biên lai thu tiền số
AA/2014/0007708 ngày 13/6/2018; Nguyễ n Văn D đã nộ p 3.200.000đ theo biên lai thu tiền số AA/2014/0007714 ngày 27/6/2018; Nguyễ n Văn B 1 đã nộ p 2.600.000đ theo biên lai thu tiền số AA/2014/0007722 ngày 27/6/2018; Nguyễ n Văn Tr đã nộ p 2.200.000đ theo biên lai thu tiền số AA/2014/0007723 ngày 27/6/2018; Nguyễ n Văn M đã nộ p 1.000.000đ theo biên lai thu tiền số AA/2014/0007719 ngày 27/6/2018; Nguyễ n Văn Bù n đã nộ p 1.000.000đ theo biên lai thu tiền số AA/2014/0007721 ngày 27/6/2018; Nguyễ n Văn N đã nộ p 3.200.000đ theo biên lai thu tiền số AA/2014/0007718 ngày 27/6/2018; Nguyễ n Văn Đ đã nộ p 3.200.000đ theo biên lai thu tiền số AA/2014/0007715 ngày 27/6/2018; Nguyễ n Văn C đã nộ p 3.200.000đ theo biên lai thu tiền số AA/2014/0007720 ngày 27/6/2018; Nguyễ n Trung K đã nộ p 3.200.000đ theo biên lai thu tiền số AA/2014/0007720 ngày 27/6/2018; Nguyễ n Văn H đã nộ p 500.000đ theo biên lai thu tiền số AA/2014/0007724 ngày 27/6/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Về vậ t chứ ng: Áp dụng Điều 41 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 106 Bộ luật tố
tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 55.320.000đ (Năm mươi lăm triệ u
ba trăm hai mươi nghì n đồ ng).
Tịch thu tiêu hủy: 01 đĩa sứ; 01 bát sứ; 04 quân vị hình tròn có một mặt trắng
và 01 mặ t và ng; 01 bạt dứa có kẻ sọc màu xanh, đỏ , trắ ng.
Tịch thu số tiền100.000đ (Mộ t trăm nghì n đồ ng) của Nguyễ n Văn B1 để sung quỹ
Nhà nước.
Truy thu củ aNguyễ n Văn G số tiề n500.000đ (Năm trăm nghì n đồ ng) để sung
quỹ Nhà nước.
Trả lại Nguyễn Trung K 32.000.000đ (Ba mươi hai triệ u đồ ng ), Nguyễ n Văn
H 4.100.00đ (Bố n triệ u mộ t trăm nghì n đồ ng) và 01 ví da màu đen nhưng tạ m giữ số tiề n để đảm bảo thi hành á n.
Trả lại chịĐỗ Thị T2 số tiề n10.000.000đ (Mườ i triệ u đồ ng).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/4/2018 giữa Công an huyện
Thuận Thành và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Thành).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luậ t tố tụng hình sự ; Nghị quyết số 326
ngày 30/12/2016 của UBTVQH: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo
bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan vắ ng mặ t có quy ền kháng cáo bản án
trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhậ n đượ c bả n á n hoặ c niêm yế t bả n á n.