- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào A S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Thào A S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 15 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP TỈNH ĐIỆN BIÊN ______________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2018/HS-ST Ngày 12-7-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NP, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Vàng Thị Dua.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thùng Văn Liên và ông Vàng A Hý.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh Hùng - Thư ký Toà án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên; Tòa án nhân dân huyện NP mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2018/TLST-HS ngày 11/6/2018.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2018/QĐXXST-HS ngày 02/7/2018 đối với bị cáo.
Thào A S Sinh năm: 1985 tại huyện P, tỉnh Lào Cai; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Bản N1, xã N, huyện NP, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm nương; Trình độ văn hóa: Không; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Thào A V (đã chết) và con bà Vừ Thị S (đã chết); Bị cáo có vợ là Giàng Thị A sinh năm 1990 và có 05 người con; Tiền sự, tiền án: Không;
Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/02/2018 tại Công an huyện NP. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 07 giờ 35 phút, ngày 28/02/2018, tổ công tác Đồn biên phòng N, huyện NP đang làm nhiệm vụ tuần tra kiểm soát tại khu vực bản N1, xã N, huyện NP, tỉnh Điện Biên phát hiện trong nhà Thào A S có biểu hiện của việc tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác tiến hành vào nhà Sử kiểm tra, phát hiện Thào A S đang ngồi cạnh bộ bàn đèn tự tạo để hút thuốc phiện và trên tay phải của Thào A S cầm 01 gói ni lông màu đỏ bên trong có chứa chất nhựa dẻo màu nâu đen có mùi hắc, nghi là thuốc phiện. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng vụ án.
Tại cơ quan điều tra Thào A S khai nhận: Gói vật chứng (nghi là thuốc phiện) bị bắt giữ quả tang trên là thuốc phiện, do Sử mua của một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết khoảng 30 tuổi tại khu vực bản N, xã N, huyện NP, tỉnh Điện Biên, với số tiền là 60.000VNĐ vào ngày 27/02/2018. Mục đích mua ma túy của Sử là để sử dụng cho bản thân vì Sử là người nghiện ma túy.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định ngày 01/3/2018 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP xác định: Vật chứng nghi là thuốc phiện thu giữ của Thào A S có khối lượng là 1,9 (Một phẩy chin) gam.
Bản kết luận giám định số: 317/GĐ-PC54, ngày 12/3/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất dẻo màu nâu đen trích ra từ vật chứng thu giữ của Thào A S gửi giám định là chất ma túy: Loại thuốc phiện. Khối lượng vật chứng thu giữ của Thào A S là 1,9 gam.
2Cáo trạng số: 20/CT-VKSNP ngày 11/6/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, tỉnh Điện Biên truy tố bị can Thào A S về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249/BLHS.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NP giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 249 và điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo Thào A S từ 12 tháng đến 18 tháng tù; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS, tịch thu: Tiêu huỷ vật chứng của vụ án là thuốc phiện và 01 bộ bàn đèn tự tạo để hút thuốc phiện. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Miễn án phí HSST theo quy định của pháp luật đối với bị cáo.
Tại phiên tòa bị cáo Thào A S nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Viện kiểm sát và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện NP, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện NP, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Thào A S khai nhận hành vi phạm tội của mình là mua ma túy để sử dụng phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Thào A S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 249/BLHS.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý đặc biệt các chất ma tuý của Nhà nước, mặt khác hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự xã hội trên địa bàn xã N, huyện NP. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, để có ma túy sử dụng bị cáo đã mua ma túy tàng trữ sử dụng, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã và đang đi ngược lại với chủ trương của Đảng, Nhà nước ta trong việc cấm trồng, sử dụng, mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma tuý. Vậy hành vi của bị cáo cần phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật để giữ vững kỷ cương của pháp luật góp phần đẩy lùi tội phạm ma tuý trong xã hội và làm gương răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong nhân dân.
Về nhân thân bị cáo: Thào A S xuất thân trong gia đình lao động nhưng không chịu lao động sống đua đòi, buông thả nên đã nghiện ma túy để có ma túy sử dụng bị cáo đã mua ma túy về tàng trữ để sử dụng.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS. Song cần xử lý bị cáo nghiêm minh trước pháp luật và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
Trong hồ sơ vụ án Thào A S khai nhận đã mua ma túy của người đàn ông dân tộc Mông khoảng 30 tuổi, Thào A S không biết tên, địa chỉ của người đó ở đâu nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện NP không đủ căn cứ để điều tra, làm rõ xử lý theo quy định.
Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào khoản 5 Điều 249/BLHS xét thấy bản thân bị cáo là người nghiện ma túy, hoàn cảnh gia đình khó khăn không có khả năng thi hành nên được miễn hình phạt bổ sung.
Về vật chứng của vụ án: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS; Tuyên tịch thu tiêu huỷ số thuốc phiện và 01 bộ bàn đèn tự tạo để hút thuốc phiện.
Về án phí: Căn cứ Điều 136/BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14; Xét thấy bị cáo là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của Chính phủ nên HĐXX miễn án phí Hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố bị cáo Thào A S phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Áp dụng Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 và điểm b khoản 1 Điều 249/BLHS: Xử phạt bị cáo Thào A S 15 ( Mười lăm) tháng tù, kể từ ngày bị bắt: 28/02/2018.
[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47/BLHS và khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106/BLTTHS: Tuyên tịch thu tiêu huỷ 1,4 (Một phẩy bốn) gam thuốc phiện và 01 bộ bàn đèn tự tạo để hút thuốc phiện (Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 11/6/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện NP).
[3] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khóa 14; Bị cáo Thào A S được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo Thào A S biết được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo - VKSND huyện NP; - CQĐT Công an huyện NP; - Nhà tạm giữ Công an huyện NP; - THAHS huyện NP; - Phòng KTNV và THA Tòa án tỉnh; - Chi cục THADS huyện NP; - PC 81 CA tỉnh Điện Biên; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên; - Sở tư pháp tỉnh Điện Biên; - Lưu hồ sơ vụ án; HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Vàng Thị Dua |