vanban.org

Bản án 43/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Tuyên án 24/08/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn H phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 202; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009; Xử phạt: Bị cáo Nguyễn H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 24/8/2018). Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn H - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đ…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn H phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒ A Á N NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ GIÁ O
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2018/HS-ST.
Ngày 24-8-2018.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hữu Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Kim Niệm;

Bà Trần Thị Kim Oanh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Tống Phi Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tinh Bỉ

nh Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:

̀ 23/2018/TLST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2018/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2018 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn H, sinh năm 1983 tại tỉnh An Giang; thường trú: Ấp B, xã A, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang; tạm trú: Ấp T, xã T1, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên Chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1955 và bà Nguyễn Bích T1, sinh năm 1958; bị cáo có vợ tên Trịnh Thị Bé H1 và có 01 con sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại có mặt.

- Bị hại: Ông N, sinh ngày 07/7/2003; thường trú: Ấp N1, xã A1, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (chết)

Đại diện hợp pháp của bị hại N gồm có:

1. Bà Lê Thị Y, sinh năm 1977; nơi thường trú: Ấp N1, xã A1, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (mẹ ruột của bị hại).

Người đại diện hợp pháp của bà Lê Thị Y: Ông N2, sinh năm 1975; nơi thường trú: Ấp N1, xã A1, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (theo giấy ủy quyền ngày 13/12/2017); có mặt.

2. Ông N2, sinh năm 1975; nơi thường trú: Ấp N1, xã A1, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương (cha ruột của bị hại).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Châu Khắc HL, sinh năm 1988; nơi thường trú: 211/11, Phường 4, Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bà Châu Khắc HL: Bà Trần Thị M, sinh năm 1961; nơi thường trú: Ấp T2, T3, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh (theo giấy ủy quyền ngày 18/12/2017); ngày 06/8/2018, bà Minh có đơn xin xét xử vắng mặt.

3. Bà Lê Thị Ngọc S, sinh năm 1963; nơi thường trú: N3, phường PC, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

4. Công ty Bảo hiểm PJ; địa chỉ: 186 Điện Biên Phủ, Phường 06, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông H2, chức vụ - Giám đốc; ngày 15/8/2018 ông H2 có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn H có giấy phép lái xe số 790114011572, hạng A1, FC do Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/11/2005 có giá trị đến ngày 24/11/2020.

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 01/12/2017, Nguyễn H đỗ xe ô tô biển số 51D-10093 trên đường ĐH 503 thuộc địa phận ấp G, xã T4, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương cho công nhân bốc củi cao su bên lề đường lên xe. Lúc này, H đỗ xe trên phần đường bên phải theo chiều đi của H, đầu xe hướng vào cầu Rạch Bé nhưng không dừng xe sát mép đường, bánh sau bên phải cách lề 1.6 mét, bánh trước bên phải cách lề 1,8 mét. Mặc dù H có bật đèn báo đỗ xe và gắn bóng đèn lên kéo thùng xe để chiếu sáng cho công nhân bốc củi lên xe nhưng H không đặt biển báo hiệu để cảnh báo đối với các phương tiện lưu thông trên đường đúng quy định. Sau khi H dừng xe được khoảng 5 phút, N sinh ngày 07/7/2003 (chưa có giấy phép lái xe) điều khiển xe mô tô biển số 61N3 – 4756 từ phía sau đến nhưng không phát hiện xe ô tô do H điều khiển đang đỗ phía trước nên va chạm vào bửng sau bên phải xe ô tô làm xe mô tô và N ngã xuống đường. N được mọi người đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương đến ngày 02/12/2017 N chết.

Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 1017/GĐPY ngày 05/12/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương xác định: Nguyên nhân chết của nạn nhân N là chấn thương sọ não, xuất huyết não, tụ máu nội sọ, dập não.

Bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Giáo ngày 15/01/2018. Kết luận thiệt hại của mô tô biển số 61N3 - 4756 là: 50.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo thu giữ: 01 xe mô tô biển số 61N3 – 4756. Đây là xe của bà Lê Thị Ngọc S đã bán cho ông N2 nhưng chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. Xét thấy đây là tài sản hợp pháp của N2 nên cơ quan điều tra đã giao trả lại chiếc xe này cho N2. 01 xe ô tô biển số 51D - 10093, đây là tài sản của bà Châu Khắc HL. Ngày 18/01/2018, Cơ quan điều tra đã giao trả lại giấy tờ đăng ký xe ô tô biển số 51D

- 10093 và xe ô tô biển số 51D - 10093 cho bà Trần Thị M là người đại diện theo ủy quyền của bà HL. Thu giữ 01 giấy phép lái xe số 790114011572, A1, FC, tên Nguyễn H, sinh năm 1983, do Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/11/2015 có giá trị đến ngày 24/11/2020.

Tại bản Cáo trạng số 28/CT-VKSPG, ngày 29/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Nguyễn H về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo tham gia phiên toà trình bày lời luận tội trong đó có nội dung vẫn giữ nguyên quyết định Cáo trạng đã truy tố, đánh giá tính chất mức độ, hâ ̣u quả hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nă ̣ng, giảm nhẹ trách nhiê ̣m hinh sự, đề nghị Hội

̀ đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn H mức hình phạt từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn H và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Châu Khắc HL đã thỏa thuận bồi thường xong số tiền 110.000.000 đồng, người đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe số 790114011572, A1, FC, tên Nguyễn H, sinh năm 1983, do Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/11/2015 có giá trị đến ngày 24/11/2020.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn H thừa nhận hành vi đỗ xe ô tô biển số 51D-10093 trên đường ĐH 503 thuộc địa phận ấp G, xã T4, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương cho công nhân bốc củi cao su bên lề đường nhưng không dừng xe sát mép đường, bánh sau bên phải cách lề 1,6m, bánh trước bên phải cách lề 1,8m, không đặt biển báo hiệu nguy hiểm ở phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết. Sau khi đỗ xe, bị hại điều khiển xe mô tô biển số 61N3-4756 từ phía sau va chạm vào bửng sau bên phải xe ô tô làm xe mô tô và bị hại Hùng ngã xuống đường, đến ngày 02/12/2017 bị hại N chết. Bị cáo và đại diện hợp pháp của chủ xe bà Châu Khắc HL với đại diện hợp pháp của bị hại đã thống nhất bồi thường xong số tiền 110.000.000 đồng; bị cáo thống nhất với tội danh, mức hình phạt của Viện kiểm sát đề nghị và không có ý kiến gì thêm.

Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của bị hại N là ông N2 không yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường do các bên đã thống nhất bồi thường xong với số tiền 110.000.000 đồng; về hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo; ngoài ra, không yêu cầu gì khác.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Châu Khắc HL vắng mặt, tuy nhiên các lời khai trong quá trình điều tra, truy tố yêu cầu Công ty Bảo hiểm PJ bồi thường số tiền 100.000.000 đồng theo như hợp đồng bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự của chủ xe ô tô; tại phiên tòa, bà Trần Thị M là người đại diện hợp pháp cho bà HL có đơn xin xét xử vắng mặt, nội dung đơn nêu Công ty Bảo hiểm PJ đã bồi thường tiền bảo hiểm nên không yêu cầu Công ty Bảo hiểm PJ bồi thường, không yêu cầu bị cáo bồi thường lại số tiền đã bồi thường cho bị hại và không có ý kiến khác.

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty Bảo hiểm PJ, người đại diện hợp pháp là ông H2 có đơn xin xét xử vắng mặt, tuy nhiên ông H2 cung cấp giấy ủy nhiệm chi ngày 21/5/2018 của Công ty Bảo hiểm PJ bồi thường cho bà Trần Thị M số tiền 100.000.000 đồng (bồi thường xe 51D-10093) phù hợp với biên bản xác minh ngày 14/8/2018 tại Công ty Bảo hiểm PJ và không có ý kiến khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phú Giáo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung vụ án: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 01/12/2017, tại đoạn đường ĐH-503 thuộc ấp G, xã T4, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn H đỗ xe ô tô biển số 51D-10093 trên đường cho công nhân bốc củi cao su. Sau khi đỗ xe, bị hại N điều khiển xe mô tô biển số 61N3 – 4756 từ phía sau va chạm vào bửng sau bên phải xe ô tô làm xe mô tô và N ngã xuống đường được mọi người đưa đi cấp cứu đến ngày 02/12/2017 N chết.

Căn cứ Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 1017/GĐPY ngày 05/12/2017 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương xác định: Nguyên nhân chết của nạn nhân N là chấn thương sọ não, xuất huyết não, tụ máu nội sọ, dập não. Bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phú Giáo ngày 15/01/2018 kết luận: Thiệt hại của mô tô biển số 61N3 - 4756 là: 50.000 đồng.

Hành vi của bị cáo Nguyễn H điều khiển xe mô tô không tuân thủ Luật Giao thông đường bộ (không đỗ sát mép đường phía bên phải theo chiều đi của mình, bánh sau bên phải cách lề 1.6 mét, bánh trước bên phải cách lề 1,8 mét, không đặt biển báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe để người điều khiển phương tiện khác biết) đã vi phạm các điểm b, d khoản 3 Điều 18 của Luật Giao thông đường bộ năm 2008 gây tai nạn giao thông làm chết 01 người và hư hỏng tài sản.

Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo truy tố bị cáo Nguyễn H về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại khoản 1 Điều 202 của Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo hoàn toàn có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Hành vi của bị cáo Nguyễn H là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến tính mạng của người tham gia giao thông. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bi ̣ cáo và gia đình bị hại đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại xong phần trách nhiệm dân sự, phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, đại hiện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, bị cáo có con còn nhỏ; do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Do bị cáo Nguyễn H có nhiều tinh tiết giảm nhe ̣, không có tình tiết tăng

̀

nặng trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có nhân thân tốt, bị cáo bị xử phạt tù không quá 3 năm về tội nghiêm trọng, bị cáo có khả năng tự cải tạo, giáo dục và nếu không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhằm thể hiê ̣n chinh

́ sách khoan hồng của nhà nướ c đối với người phạm tội lần đầu, khi quyết đi ̣nh hinh pha ̣t không cần cách ly bi ̣ cáo H ra khỏi xa hô ̣̃ i; vi thế, Hô ̣i đồng xét xử áp ̀

̀ du ̣ng Điều 60 của Bô ̣ luâ ̣t Hinh sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009

̀ đối với bi ̣ cáo.

Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp, có căn cứ chấp nhận.

Xét ý kiến của người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường giải quyết về trách nhiệm dân sự do các bên đã thỏa thuận bồi thường xong là phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Xét ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là phù hợp nên chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn H và người đại diện hợp pháp của bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong số tiền 110.000.000 đồng, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường nên không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, truy tố đã xử lý trả lại 01 xe mô tô biển số 61N3 – 4756; 01 xe ô tô biển số 51D - 10093 cho chủ sở hữu hợp pháp, xét việc trả lại tài sản trên là có cơ sở nên chấp nhận.

Trả lại cho bị cáo 01 giấy phép lái xe số 790114011572, A1, FC, tên Nguyễn H, sinh năm 1983, do Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/11/2015 có giá trị đến ngày 24/11/2020.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 202; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009; các Điều 106, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn H phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 202; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 60 của Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án (ngày 24/8/2018).

Giao bị cáo Nguyễn H cho Ủy ban nhân dân xã T1, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Nguyễn H thay đổi nơi cư trú thì áp dụng khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự năm 2010 quy định để giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 42 của Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Trả lại cho bị cáo Nguyễn H 01 giấy phép lái xe số 790114011572, A1, FC, mang tên Nguyễn H, sinh năm 1983, do Công an Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/11/2015 có giá trị đến ngày 24/11/2020.

Vật chứng trên được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/5/2018.

4. Về án phí hinh sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình

̀ sự năm 2015; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn H phải nô ̣p 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng).

Bị cáo; người đại diện hợp pháp cho bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ