vanban.org

Bản án 43/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Tăng Thị V được ly hôn với anh Tăng Xà R.

Về quyền nuôi con chung: Giao cho chị Tăng Thị V được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung là cháu Tăng Chanh Mô N (Nam), sinh ngày 19/5/2008 và Tăng Thị Sô Mon T (Nữ), sinh ngày 19/9/2009. Ghi nhận ý chí tự nguyện của chị V, về việc không yêu cầu anh R cấp dưỡng cho con. Trong thời gian chị V nuôi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NĐ Tăng Thị V - BĐ Thạch Xà R"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Tăng Thị V được ly hôn với anh Tăng Xà R.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ VĨNH CHÂU
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2018/HNGĐ-ST
Ngày 15/11/2018
Về "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Đức Chương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Triệu Khánh Long;

2. Ông Trịnh Thanh Tùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lâm Quốc Việt, là Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Ông Hồ Văn Phân - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 195/2018/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2018 về "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con", theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 47/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2018/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2018, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Tăng Thị V, sinh năm 1988 (Có mặt); địa chỉ: Số nhà xx đường N, khóm Q, Phường 1, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

2. Bị đơn: Anh Tăng Xà R, sinh năm 1977 (Vắng mặt); địa chỉ: Số nhà yy khóm W, phường V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện ngày 17/7/2018 (BL 01) cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn là chị Tăng Thị V trình bày:

Năm 2007, chị Tăng Thị V kết hôn với anh Tăng Xà R và được Ủy ban nhân dân thị trấn V (Nay là Phường 1, thị xã V) cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 02/8/2007. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị V chung sống cùng với gia đình của chị V tại số nhà xx đường N, khóm Q, Phường 1, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng.

Cuộc sống chung hạnh phúc được thời gian đầu, chị V và anh R đã có 02 con chung là cháu Tăng Chanh Mô N (Nam), sinh ngày 19/5/2008 và Tăng Thị Sô Mon T (Nữ), sinh ngày 19/9/2009. Do bất đồng quan điểm làm phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xảy ra xô xát và đã được chính quyền, đoàn thể ở địa phương hòa giải nhưng không đạt hiệu quả, anh R không thay đổi tích cực nên mâu thuẫn vợ chồng ngày càng nghiêm trọng, tình cảm phai nhạt, không còn hạnh phúc nữa. Từ tháng 5 năm 2017, vợ chồng chị V đã không còn sống chung với nhau; anh R đi đâu không rõ hoặc chuyển về sinh sống với gia đình của anh R tại số nhà yy khóm W, phường V; chị Vuông cùng với 02 con sinh sống tại số nhà xx đường N, khóm Q, Phường 1; vợ chồng không còn liên lạc với nhau, dù cùng đang sinh sống trên địa bàn thị xã V. Nay, chị V yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Tăng Xà R.

Về con chung: Do cả 02 con chung đều có nguyện vọng được sống cùng mẹ, chị V yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng các con. Chị V có hoạt động kinh doanh các loại trái cây tại Trung tâm Thương mại thị xã V; thu nhập ổn định khoảng trên 400 ngàn đồng/ngày nên đủ điều kiện nuôi con, không yêu cầu anh R cấp dưỡng cho con.

Về tài sản và nợ chung: Chị V và anh R tự thỏa thuận phân chia tài sản chung, nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Chứng cứ do chị V giao nộp là Giấy chứng nhận kết hôn; bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Sổ hộ khẩu, Giấy khai sinh của cháu Mô N và Mon T (BL 02-10).

- Đối với bị đơn Tăng Xà R: Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo đã thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của chị V nhưng anh R không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến và nguyện vọng của mình. Anh Tăng Xà R vắng mặt không có lý do trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 22/8/2018, ngày 10/9/2018; Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp nêu trên cũng như việc thu thập được tài liệu, chứng cứ cho anh R và đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 05/11/2018, bị đơn R vẫn vắng mặt và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.

- Tài liệu, chứng cứ Tòa án thu thập được là Biên bản lấy lời khai của cháu Tăng Chanh Mô N (BL 28) và cháu Tăng Thị Sô Mon T (BL 29); Biên bản xác minh về nơi cư trú, việc giao nhận văn bản tố tụng của bị đơn; tình trạng hôn nhân, nguyên nhân làm phát sinh tranh chấp, nguyện vọng và điều kiện của các đương sự (BL 26-27).

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định chính xác quan hệ pháp luật tranh chấp; thu thập chứng cứ đầy đủ, đúng pháp luật; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, đương sự đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Tăng Thị V, giải quyết cho chị V ly hôn với anh Tăng Xà R; giao cho chị V được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung, anh R không phải cấp dưỡng cho con; không xem xét, giải quyết về tài sản và nợ chung do không có yêu cầu; quyết định nghĩa vụ chịu án phí đối với các đương sự, theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng:

Chị Tăng Thị V khởi kiện, yêu cầu ly hôn với anh Tăng Xà R và giải quyết quyền nuôi con chung. Yêu cầu này của chị V được pháp luật điều chỉnh tại các Điều 51, Điều 56 và Điều 58 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 (Sau đây gọi là Luật hôn nhân và gia đình); thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn Tăng Xà R đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn và Kiểm sát viên yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật; Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.

Về nội dung giải quyết:

- Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn và bản sao Giấy chứng minh nhân dân, Sổ hộ khẩu, Giấy khai sinh của cháu Mô N và Mon T cũng như việc không phản đối của anh R và kết quả xác minh của Tòa án; đối chiếu với quy định tại điểm c Khoản 1, Khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử khẳng định lời trình bày của chị Tăng Thị V về việc kết hôn với anh Tăng Xà R, được Ủy ban nhân dân Phường Q, thị xã V cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 02/8/2007 và vợ chồng đã có 02 con chung là sự thật. Vì vậy, giữa chị V và anh Tăng Xà R đang tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp, quy định tại Khoản 1 Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, do bất đồng quan điểm làm phát sinh mâu thuẫn nên chị Tăng Thị V yêu cầu ly hôn với anh R; mặc dù đã 02 lần Tòa án mở phiên họp, hòa giải để phân tích, động viên cho vợ chồng hàn gắn tình cảm, cùng nhau nuôi dạy con chung nhưng anh Tăng Xà R đều vắng mặt.

Như vậy, cùng với việc không phản đối yêu cầu ly hôn của chị V đã chứng tỏ anh R không có nguyện vọng đoàn tụ; vợ chồng không còn thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình nên chị V với anh R đã không còn tình nghĩa vợ chồng quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, có cơ sở kết luận quan hệ hôn nhân của chị V với anh R đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị V ly hôn với anh R.

- Tại thời điểm xét xử vụ án, cháu Mô N và Mon T đều đã trên 07 tuổi, phát triển bình thường về thể chất và trí tuệ; cả 02 cháu đang sống với chị V, được học tập ổn định và có nguyện vọng tiếp tục sống cùng mẹ (BL 26, 28, 29); như vậy, chị V đã thực hiện đúng nghĩa vụ và quyền của cha mẹ quy định tại Điều 69 của Luật hôn nhân và gia đình. Về phía anh R, từ khoảng 18 tháng nay đã không có sự quan tâm, chăm lo cho cháu Mô N và Mon T đạt mức cần thiết; anh R đã vi phạm nghĩa vụ và quyền của cha mẹ như quy định của điều luật vừa viện dẫn trên. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt được tốt hơn và tránh sự xáo trộn nề nếp sinh hoạt, môi trường sống, học tập của cháu Mô N và Mon T thì cần căn cứ Điều 58, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình để giao cho chị V tiếp tục nuôi dưỡng cả 02 con chung; đồng thời, ghi nhận ý chí tự nguyện của chị V về việc không yêu cầu anh R cấp dưỡng cho con.

- Nguyên đơn tiếp tục khẳng định tự thỏa thuận phân chia tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí sơ thẩm: Chị V phải chịu 300.000 đồng theo điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV, Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên, Hội đồng xét xử cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đã nêu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 1 và Khoản 2 Điều 143, Khoản 3 Điều 144, Khoản 4 Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV;

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Tăng Thị V được ly hôn với anh Tăng Xà R.

2. Về quyền nuôi con chung: Giao cho chị Tăng Thị V được trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung là cháu Tăng Chanh Mô N (Nam), sinh ngày 19/5/2008 và Tăng Thị Sô Mon T (Nữ), sinh ngày 19/9/2009. Ghi nhận ý chí tự nguyện của chị V, về việc không yêu cầu anh R cấp dưỡng cho con. Trong thời gian chị V nuôi con, không ai được quyền ngăn cản sự thăm nom, chăm sóc và giáo dục của cha mẹ đối với con chung. Vì quyền lợi về mọi mặt của cháu Mô N và Mon T, các đương sự có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng cho con nếu có căn cứ và hợp pháp.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn khẳng định tự thỏa thuận phân chia tài sản chung, nợ chung không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

4. Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn Tăng Thị V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo Biên lai số 0003878 ngày 19/7/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu. Chị V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Chị Tăng Thị V có quyền kháng cáo đối với Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa tuyên án; anh Tăng Xà R có quyền kháng cáo trong thời hạn nêu trên kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ