vanban.org

Bản án 43/2018/DSST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 24/05/2018 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Mai Thị Bích T phải thanh toán cho Công ty tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng VNTV số tiền 17.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và Công ty tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng VNTV có đơn yêu cầu thi hành án mà bà Mai Thị Bích T không trả số tiền trên thì hằng tháng bà Mai Thị Bích T phải chịu lãi chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tươ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng khởi kiện cá nhân do vi phạm hợp đồng vay"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Mai Thị Bích T phải thanh toán cho Công ty tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng VNTV số tiền 17.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TAM KỲ
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43/2018/DSST
Ngày 24 – 5 - 2018
V/v “Tranh chấp hợp đồng
vay tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TAM KỲ, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dũng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Thông,

Ông Phạm Bá Sang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Thanh Hải - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố TK;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TK tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân thành phố TK tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 25/2018/TLST - DS ngày 09 tháng 02 năm 2018 về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2018/QĐXX - DS ngày 18 tháng 4 năm 2018; Quyết định hoãn phiên tòa số 08/QĐST - HPT ngày 07 tháng 5 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công T Tài chính Trách nhiệm hữu hạn Ngân hàng VNTV; địa chỉ: Tầng 2, Tòa nhà Ree, số 9 ĐVB, P12, Q4, TPHCM; đại diện theo pháp luật: Ông Lô Bằng G – Chủ tịch Hội đồng thành viên;

Đại diện theo ủy quyền: Ông Lưu Đức T - Sinh năm 1994;

Địa chỉ: Số 353 NTP, Q.HC, ĐN(Theo Văn bản ủy quyền số 3834/UQTT - VH.18 ngày 20/4/2018): Ông T có mặt.

- Bị đơn: Bà Mai Thị Bích T - Sinh năm 1975;

Trú tại: Tổ 8, khối phố HT, phường HH, thành phố TK, tỉnh QN: Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ngày 24 tháng 7 năm 2015, bà Mai Thị Bích T ký hợp đồng tín dụng số 20150729 – 500000 - 0087 với Công T tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng VNTV vay số tiền 31.650.000đồng, lãi suất 2.92%/tháng, để tiêu dùng cá nhân, thời hạn thanh toán là 24 tháng kể từ ngày 01 tháng 9 năm 2015; tổng cộng cả gốc và lãi bà Mai Thị Bích T phải thanh toán là 44.502.000 đồng. Thực hiện hợp đồng, Công ty tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng VNTV đã giải ngân đủ số tiền cho bà Mai Thị Bích T và bà T đã thanh toán được số tiền 25.942.000 đồng. Số tiền còn lại bà T không thanh toán là vi phạm hợp đồng. Do đó, Công ty tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng VNTV yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Mai Thị Bích T thanh toán số tiền còn nợ là 17.635.000 đồng (gồm nợ gốc là 15.392.979 đồng, nơ lãi là 2,242,021 đồng).

- Đối với bị đơn Mai Thị Bích T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố TK đã nhiều lần triệu tập, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bà T vắng mặt không có lý do. Do đó việc thu thập lời khai của bà T không thực hiện được.

Các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án: Bản sao đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng; các tài liệu liên quan đến quá trình tố tụng của Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TK phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án và nguyên đơn đã thực hiện theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Tại hợp đồng tín dụng ký kết ngày 24 tháng 7 năm 2015, hai bên thỏa thuận bên vay phải thanh toán hằng tháng số tiền gốc và lãi trong thời hạn 24 tháng, kể từ ngày 01 tháng 9 năm 2015. Thực hiện hợp đồng, bên vay không thanh toán đúng như thỏa thuận hợp đồng. Do vậy bên cho vay khởi kiện yêu cầu bên vay trả các khoản nợ theo hợp đồng là đảm bảo quyền khởi kiện, điều kiện khởi kiện; Tòa án nhân dân thành phố TK thụ lý và giải quyết vụ án tranh chấp hơp đồng vay tài sản là đúng thẩm quyền, đúng quan hệ pháp luật tranh chấp theo Điều 26, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn Mai Thịc Bích T đang cư trú tại phường Hòa Hương, thành phố TK, đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không tham gia các hoạt động trong quá trình chuẩn bị xét xử nên Tòa án không thu thập được lời khai, không tiến hành phiên hòa giải được; tại phiên tòa bị đơn Mai Thị Bích T tiếp tục vắng mặt mặc dù đã được Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng. Do đó Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn Mai Thị Bích T là đúng quy định tại khoản 5 Điều 177, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Hợp đồng vay tài sản giữa các bên được thực hiện trước và sau ngày 01 tháng 01 năm 2017, nội dung, hình thức của hợp đồng phù hợp cới quy định của Bộ luật sân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 688 và các quy định của Bộ luật dân sự 2015 để xem xét, quyết định các nội dung liên quan đến vụ án này.

Về nội dung:

Kết quả tranh tụng tại phiên tòa và các tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cho thấy: Ngày 24 tháng 7 năm 2015, bà Mai Thị Bích T ký hợp đồng tín dụng số 20150729 – 500000 - 0087 với Công T tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng VNTV vay số tiền 31.650.000đồng, lãi suất 2,92%/tháng, tổng cộng nợ gốc và lãi phải trả đến khi hết hạn của hợp đồng là 44.502.000 đồng, phương thức vay trả góp hàng tháng, mục đích vay để tiêu dùng cá nhân, thời hạn thanh toán là 24 tháng tính từ ngày 01 tháng 9 năm 2015; bên vay đã nhận đủ số tiền 31.650.000 đồng và đã thanh toán số tiền 25.942.000đồng. Số tiền hiện nay bên vay không thanh toán đúng theo hợp đồng là 17.635.000 đồng (gồm nợ gốc 15.392.979 đồng và nợ lãi 2.242.021 đồng).

Đối chiếu hình thức, nội dung, lãi suất và quá trình thực hiện hợp đồng vay tài sản giữa hai bên với quy định tại các điều 401, 463, 465, 466, 468, 470 Bộ luật dân sự 2015 và khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử có đủ cơ sơ xác định: Hợp đồng tín dụng số 20150729 – 500000 – 0087 ngày 24 tháng 7 năm 2015 giữa Công ty tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng VNTV với bà Mai Thị Bích T đảm bảo các điều kiện của pháp luật về hình thức, nội dung và điều kiện có hiệu lực pháp luật của hợp đồng vay tài sản; bên vay đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo mục 3 phần IV của Hợp đồng tín dụng. Theo đó, có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Mai Thị Bích T thanh toán cho Công ty tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng VNTV số tiền nợ gốc và lãi là 17.635.000 đồng (gồm nợ gốc 15.392.979 đồng và nợ lãi 2.242.021 đồng).

Điều khoản và điều kiện dành cho khách hàng kèm theo hợp đồng tín dụng có thỏa thuận về phạt chậm trả, không có thỏa thuận về lãi suất chậm trả; trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nội dung phạt chậm trả. Do vậy, việc xem xét nghĩa vụ chậm trả tiền trong quá trình thi hành án sẽ được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành.

Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền 881.750 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; các điều 401, 463, 465, 466, 468, 470, 688 Bộ luật dân sự 2015, khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Mai Thị Bích T phải thanh toán cho Công ty tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng VNTV số tiền 17.635.000 đồng (gồm nợ gốc 15.392.979 đồng và nợ lãi 2.242.021 đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và Công ty tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng VNTV có đơn yêu cầu thi hành án mà bà Mai Thị Bích T không trả số tiền trên thì hằng tháng bà Mai Thị Bích T phải chịu lãi chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Mai Thị Bích T phải chịu 881.750 (tám trăm tám mươi mốt nghìn bảy trăm năm mươi) đồng. Hoàn lại cho Công T tài chính Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Ngân hàng VNTV số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 487.200 (bốn trăm tám mươi bảy nghìn hai trăm) đồng theo biên lai thu số 0003113 ngày 09/02/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TK.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ