vanban.org

Bản án 43/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam Tuyên án 15/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hà Văn V - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 104 Bộ luật Hình sự
TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!
!HUYỆN BÌNH!LỤC!
!!!!TỈNH!HÀ!NAM!

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản!án số: 43/2017/HSST
Ngày 15/9/2017

NHÂN!DANH!!

NƯỚC!CỘNG!HOÀ!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!

!

TOÀ!ÁN!NHÂN!DÂN!HUYỆN!BÌNH!LỤC,!TỈNH!HÀ!NAM!

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Thạo.

- Các Hội thẩm nhân dân:

+ Ông Nguyễn Huy Sự – Giáo viên nghỉ hưu tại xã Đồn Xá, huyện Bình Lục.

+!Ông Lê Văn Hưởng – Cán bộ Hưu trí xã Tràng An, huyện Bình Lục.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bảy - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 15/9/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 39/2017/HSST ngày 11/8/2017 đối với bị cáo:

Hà!Văn!V, sinh ngày 06/7/1999; nơi cư trú: Xóm C, xã BN, huyện B, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; con ông Hà Văn V và bà Hoàng Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt, tạm giữ từ ngày 29/6/2017 và bị tạm giam từ ngày 02/7/2017, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Hà Nam; có mặt tại phiên toà.

-!Người!bị!hại: Anh Đỗ Văn N, sinh năm 1998; nghề nghiệp: Lao động tự do; nơi cư trú: Xóm X, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam; có mặt.

-!Người!có!quyền!lợi,!nghĩa!vụ!liên!quan!đến!vụ!án: Ông Đỗ Văn H, sinh năm 1969; nghề nghiệp: Làm ruộng; nơi cư trú: Xóm X, xã N, huyện L, tỉnh Hà Nam; có mặt.

NHẬN!THẤY:!

Bị cáo Hà Văn V bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Tối ngày 30/5/2017, anh Đỗ Văn N cùng nhóm bạn gồm các anh Trần Tiến T, sinh năm 1999, Lã Minh H, sinh năm 1998, Vũ Văn H, sinh năm 1997, Hà Trung S, sinh năm 1998, đều trú tại thị trấn V, huyện L, Trần Văn T, sinh năm 1995 trú tại xóm C, xã BN, huyện B và một người tên là H ở xã N, huyện L ngồi uống nước tại quán của bà Vũ Thị Ng ở xóm 1 thị trấn V, huyện L. Khoảng 21 giờ cùng ngày, anh N điều khiển xe mô tô BKS 90B2-140.21; anh T điều khiển xe mô tô chở anh T, anh H; anh H điều khiển xe mô tô chở anh S; anh H điều khiển xe mô tô đi một mình theo đường ĐT 491 sang địa bàn xã BN, huyện B chơi. Khi đi đến khu vực cây xăng xóm C, xã BN, huyện B thì anh T bảo đi về nhà nên anh T và anh H sang ngồi sau xe mô tô do anh N điều khiển rồi cả nhóm tiếp tục đi về hướng chợ Sông, khi đi qua khu vực cống Tây thuộc xóm C, xã BN, huyện B thì gặp Hà Văn V đang dựng xe mô tô, đứng một mình ở khu vực cống Tây, cách nhóm anh N khoảng 100m.

Do trước đó Hà Văn V bị một nhóm thanh niên đi xe mô tô đuổi đánh nên khi gặp nhóm của anh N thì V nghĩ đây là nhóm thanh niên vừa đuổi đánh mình nên V lên xe mô tô, tay trái cầm dao, tay phải điều khiển xe đuổi theo nhóm anh N, thấy vậy nhóm anh N quay đầu xe mô tô chạy về hướng thị trấn V. Anh H và anh H điều khiển xe mô tô theo đường ĐT 491 qua cổng chào sang địa bàn thị trấn V, xe mô tô do anh N điều khiển chở các anh T, H thì rẽ vào đường bờ sông thuộc địa bàn xóm C, xã BN nên bị V đuổi theo. Khi anh N điều khiển xe mô tô đến khu vực cầu ông Bướm thì bị trượt ngã, xe mô tô đổ ra đường, các anh T, H chạy về phía cầu ông Bướm, anh N chưa kịp chạy thì bị V đuổi kịp, V xuống xe, cầm dao chạy đến chỗ anh N, thấy anh N đang chuẩn bị đứng dậy, V dùng chân phải đạp một nhát trúng vào ngực anh N làm anh N ngã ngửa ra đường, V tiến đến đứng đối diện anh N, tay phải cầm dao chém một nhát trúng vào đầu gối phải anh N thì được người dân địa phương can ngăn. V lên xe mô tô bỏ đi, anh N bị thương được gia đình đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Việt Đức-Hà Nội.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 73/TgT ngày 20/6/2017 của Trung tâm Pháp y tỉnh Hà Nam kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với anh Đỗ Văn N hiện tại là 15% (Mười lăm phần trăm), vết thương thấu gối phải là do vật có cạnh sắc tác động trực tiếp gây nên.

Tại bản cáo trạng số 43/KSĐT - TA ngày 11/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam đã truy tố bị cáo Hà Văn V về tội "Cố ý gây thương tích" theo khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 104; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33; Điều 69; Điều 74 Bộ luật hình sự năm 1999; Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo V từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Chấp nhận thỏa thuận của anh Đỗ Văn N và bị cáo V, bị cáo V có trách nhiệm bồi thường cho anh N thiệt hại về sức khỏe tổng số tiền là 23.000.000 đồng, được đối trừ với số tiền gia đình bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho anh N trước khi xét xử là 8.000.000 đồng.

Tại phiên tòa, bị cáo Hà Văn V khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam đã truy tố và nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên; bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bản thân.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác,

XÉT!THẤY:!

Lời khai nhận của bị cáo Hà Văn V tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của những người làm chứng, bản kết luận giám định pháp y về thương tích và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà Cơ quan điều tra đã thu thập.

Hội đồng xét xử thấy đã có đủ căn cứ để xác định: Vào khoảng 21 giờ ngày 30/5/2017, tại khu vực cầu ông Bướm thuộc địa bàn xóm C, xã BN, huyện B, do nhầm tưởng anh Đỗ Văn N và nhóm bạn của anh N đi xe mô tô đuổi đánh mình trước đó nên bị cáo Hà Văn V đã điều khiển xe mô tô đuổi theo và dùng dao chém một nhát trúng vào đầu gối phải của anh Đỗ Văn N, làm anh N bị thương và bị tổn hại 15% (Mười lăm phần trăm) sức khỏe. Như vậy, hành vi của bị cáo V dùng dao gây thương tích cho anh N thuộc trường hợp “Dùng hung khí nguy hiểm” nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây nên sự bất bình trong nhân dân. Hành vi đó của bị cáo thể hiện rõ sự coi thường sức khỏe của người khác, coi thường pháp luật, vì vậy cần phải xử lí nghiêm khắc, cách li bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Khi quyết định hình phạt cũng xét bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Về tình tiết giảm nhẹ: Tại giai đoạn điều tra, bị cáo đã có đơn đề nghị Cơ quan điều tra thông báo cho gia đình bồi thường cho người bị hại để khắc phục hậu quả thay cho bị cáo và gia đình bị cáo đã bồi thường được một phần cho người bị hại; quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đều khai báo thành khẩn, có thái độ ăn năn hối cải, vì vậy bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, người bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, vì vậy bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Ngoài những tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng nêu trên, Hội đồng xét xử còn xét bị cáo khi phạm tội là người chưa đủ 18 tuổi, vì vậy cần phải xem xét cho phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đúng với quy định tại các Điều 69, 74 Bộ luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội. Bên cạnh đó, Hội đồng xét xử thấy rằng tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định mức hình phạt đối với tội “Cố ý gây thương tích” có khung hình phạt từ 02 năm đến 06 năm tù là nhẹ hơn so với mức hình phạt đối với tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù. Đây là sửa đổi quy định của Bộ luật hình sự theo hướng có lợi cho người phạm tội, vì vậy cần phải áp dụng Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội để xem xét quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo Hà Văn V và người bị hại là anh Đỗ Văn N thống nhất thỏa thuận bị cáo V có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho anh Đỗ Văn N tổng số tiền là 23.000.000đ (Hai mươi ba triệu đồng). Xét sự thỏa thuận này là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tại giai đoạn điều tra và giai đoạn chuẩn bị xét xử, ông Hà Văn V là bố đẻ bị cáo V đã bồi thường cho anh Đỗ Văn N thay cho bị cáo số tiền là 8.000.000 đồng, số tiền này cần được đối trừ khi thi hành án.

Đối với con dao bị cáo V đã dùng để gây thương tích cho anh N, sau khi gây án V mang về cất giấu ở bể cát lọc nước của gia đình, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Lục đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được; đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave α màu trắng, biển kiểm soát 90B2-140.21 thu giữ tại hiện trường nơi xảy ra vụ án, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Đỗ Văn H (là bố đẻ anh N), Cơ quan CSĐT Công an huyện Bình Lục đã trả lại chiếc xe cho ông H là đúng quy định của pháp luật, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Án phí dân sự sơ thẩm: Do bị cáo đã được gia đình tự nguyện bồi thường số tiền 8.000.000 đồng cho người bị hại trước khi mở phiên tòa, nên bị cáo chỉ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 15.000.000 đồng còn phải bồi thường tiếp cho người bị hại theo thỏa thuận tại phiên tòa, cụ thể như sau: 15.000.000 đồng x 5% = 750.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT!ĐỊNH:!

1.!Tuyên!bố: Bị cáo Hà Văn V phạm tội "Cố ý gây thương tích".

Áp dụng khoản 2 Điều 104; các điểm b, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 33; Điều 69; Điều 74 Bộ luật hình sự năm 1999 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội; khoản 3 Điều 7; điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Hà Văn V 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ 29/6/2017.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 590 Bộ luật dân sự, chấp nhận sự thỏa thuận về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm giữa người bị hại là anh Đỗ Văn N và bị cáo Hà Văn V. Bị cáo Hà Văn V có trách nhiệm bồi thường cho anh Đỗ Văn N các khoản thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm tổng số tiền là 23.000.000đ (Hai mươi ba triệu đồng). Đối trừ với số tiền 8.000.000đ (Tám triệu đồng) gia đình bị cáo V đã bồi thường cho anh N thay cho bị cáo. Còn lại bị cáo Hà Văn V phải bồi thường tiếp cho anh Đỗ Văn N là 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng).

3. Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự; các điểm a, f, g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án và Danh mục án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Hà Văn V phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 750.000đ (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Báo cho bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. N¬i!nhËn:

Cỡ chữ