vanban.org

Bản án 43/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/201…

Về hôn nhân: Bà Ngô Thị Kim A được ly hôn với ông Nguyễn Văn D Về nôi con chung: Giao con chung Nguyễn Hồng U, sinh ngày 10/12/2010, (hiện đang sống chung bà A) cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cháu Uyên mỗi tháng 650.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Ngô Thị Kim Anh - Nguyễn Văn Danh"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/201…
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HUỆ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH LONG AN
Bản án số: 43/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 01-8-2017
“V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triến.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Hưng.

2. Bà Dương Ngọc Trang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lữ Minh Vũ - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.

Trong ngày 01 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 47/2017/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2017 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2017/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 6 năm 2017 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Ngô Thị Kim A - Sinh năm 1985 - Địa chỉ: ấp 2, xã B, huyện D, tỉnh Long An. (vắng mặt - có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn D - Sinh năm 1982 - Địa chỉ: ấp 2, xã B, huyện D, tỉnh Long An. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 06/03/2017, các văn bản tiếp theo nguyên đơn bà Ngô Thị Kim A trình bày và yêu cầu: bà và ông Nguyễn Văn D cưới nhau vào tháng 6 năm 2009, sau đó đăng ký lại việc kết hôn vào ngày 07/12/2012 (giấy chứng nhận kết hôn số 104/2012, quyển số 01/2011) tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện D tỉnh Long An.

Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 8/2016 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên gây gỗ với nhau dẫn đến mất hạnh phúc gia đình. Bà và ông D đã ly thân từ tháng 8/2016 cho đến nay và mối quan hệ vợ chồng chấm dứt.

Về hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn D.

Về nuôi con chung: Bà và ông D có 01 con chung tên Nguyễn Hồng U, sinh ngày 10/12/2010, hiện đang sống chung bà A. Khi ly hôn, bà yêu cầu trực tiếp nuôi con và yêu cầu ông D cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về chia tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn ông Nguyễn Văn D được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai vẫn vắng mặt tại phiên tòa không lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn bà A, có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà A. Tại đơn xin xét xử vắng mặt ngày 16/6/2017, bà A vẫn giữ yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn D, yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung, nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về thẩm quyền: Bà Ngô Thị Kim A khởi kiện yêu cầu ly hôn ông Nguyễn Văn D có hộ khẩu thường trú và hiện cư trú tại ấp 2, xã B, huyện D, tỉnh Long An. Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. [2] Về tố tụng: Ông Nguyễn Văn D được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án nhưng ông D không có ý kiến cũng như không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quyền và lợi ích chính đáng của ông, không có mặt để tham gia hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét đơn khởi kiện của bà Ngô Thị Kim A theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Ông D không được quyền khiếu nại về việc cung cấp chứng cứ, tham gia hòa giải và tham gia phiên tòa vì ông đã không có mặt theo thông báo và giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông theo quy định pháp luật. [3] Nguyên đơn bà Ngô Thị Kim A vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn ông Nguyễn Văn D vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ có trong hồ sơ vụ án xét đơn khởi kiện của bà A theo khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. [4] Về hôn nhân: Bà A và ông D chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2009, có đăng ký kết hôn ngày 07/12/2012 (giấy chứng nhận kết hôn số 104/2012, quyển số 01/2011) tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện D tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân của bà A và ông D là quan hệ hôn nhân hợp pháp kể từ ngày đăng ký kết hôn theo luật Hôn nhân gia đình năm 2000 và năm 2014. Quá trình chung sống không hạnh phúc nên bà A và ông D sống ly thân với nhau từ tháng 8/2016 đến nay. [5] Xét việc bà A yêu cầu ly hôn với ông D: Bà A và ông D có mâu thuẫn vợ chồng xảy ra từ tháng 8/2016 là do bất đồng quan điểm, tính tình không hợp nhau, gây gỗ thường xuyên dẫn đến mất hạnh phúc gia đình không sống chung với nhau được phải sống ly thân từ tháng 8/2016 cho đến nay và mối quan hệ vợ chồng chấm dứt, cho thấy mâu thuẫn vợ chồng bà A và ông D đã trầm trọng cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận theo yêu cầu ly hôn của bà A đối với ông D là phù hợp theo khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Về nuôi con chung: Xét thấy cháu Nguyễn Hồng U, sinh ngày 10/12/2010, hiện đang sống chung bà A. Khi ly hôn, bà A có yêu cầu trực tiếp nuôi con chung là phù hợp và yêu cầu ông D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung 2.000.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi là quá cao so với thực tế tại địa phương, bà A không chứng minh được thu nhập của ông D nên chỉ chấp nhận việc ông D phải nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 650.000 đồng (½ mức lương cơ bản) cho đến khi con chung đủ 18 tuổi là phù hợp Điều 81và 82 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Về chia tài sản chung và nợ chung: Bà A cho rằng không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết và ông D vắng mặt không thể hiện việc tranh chấp tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này. Nếu sau này phát sinh tranh chấp sẽ tách ra giải quyết bằng vụ án dân sự khác.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án xét thấy: Bà A là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp. Ông D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên phải chịu 300.000 đồng án phí vế cấp dưỡng nuôi con.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Bà Ngô Thị Kim A được ly hôn với ông Nguyễn Văn D

2. Về nôi con chung: Giao con chung Nguyễn Hồng U, sinh ngày 10/12/2010, (hiện đang sống chung bà A) cho bà A trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyễn Văn D có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cháu Uyên mỗi tháng 650.000 đồng. Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày án có hiệu lực pháp luật cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Ông D được quyền tới lui, thăm nom và chăm sóc con chung. Khi cần thiết, vì lợi ích của con chung, ông D và bà A có quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con chung và việc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Ngô Thị Kim A và ông Nguyên Văn D mỗi người phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Bà A được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà A đã nộp (biên lai thu số 0007826 ngày 14/3/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ). Bà A đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ