- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Lê Ngọc Thu N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ TỈNH ĐỒNG THÁP | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 43/2017/DS-ST Ngày: 07 - 9 - 2017 V/v Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẤP VÒ, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Nhã.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Hùng.
Ông Nguyễn Vạn Thế.
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Thanh Tòng, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp.
Ngày 07 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 146/2017/TLST-DS ngày 18 tháng 7 năm 2017, về việc “Tranh chấp dân sự về hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2017/QĐXXST-DS, ngày 28 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Lê Ngọc Thu N, sinh năm 1989; địa chỉ cư trú: Số 00 Nguyễn Huệ, phường A, thành phố C L, Đồng Tháp, có mặt.
- Bị đơn: Nguyễn Thị Cẩm H, sinh năm: 1959; địa chỉ cư trú: Số 00 ấp V B A, xã V T, L V, Đồng Tháp, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/6/2017 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn chị Lê Ngọc Thu N trình bày:
Ngày 15/5/2017, chị N có cho bà Nguyễn Thị Cẩm H vay số tiền 170.000.000đ có làm biên nhận nợ, thời hạn vay là 07 ngày, lãi suất thỏa thuận là 1.000.000đ mỗi ngày 3.000đ, bà H có thế chấp cho chị N bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do bà H đứng tên. Do bà H không thực hiện trả nợ, nên chị Lê Ngọc Thu N yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm H hoàn trả số tiền vay vốn là 170.000.000đ và tiền lãi tính từ 15/5/2017 đến ngày 28/6/2017 là 43 ngày, mức lãi 1,66%/tháng,thành tiền là 4.044.000đ. Tổng cộng vốn và lãi là 174.044.000đ. Chị N đồng ý hoàn cho bà H trả bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà H đứng tên.
Bà Nguyễn Thị Cẩm H trình bày:
Bà Nguyễn Thị Cẩm H thống nhất với lời trình bày của chị Lê Ngọc Thu N về số tiền vay, thời gian vay, lãi suất vay. Nay bà Nguyễn Thị Cẩm H đồng ý hoàn trả cho chị N số tiền vốn vay là số tiền là 170.000.000đ, lãi không đồng ý, bà H yêu cầu được trả dần số tiền này cho chị N và đồng ý nhận lại 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà H đứng tên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Việc chị Lê Ngọc Thu N khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Cẩm H hoàn trả số tiền nợ vay. Xét thấy đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do bà Nguyễn Thị Cẩm H có địa chỉ cư trú tại số 00 ấp V B A, xã V T, L V, Đồng Tháp và Quan hệ pháp luật trong vụ án này và giao dịch này thực hiện tháng 5 năm 2017, nên đây là tranh chấp hợp đồng vay tài sản được quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự năm 2015 thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp thụ lý giải quyết theo là đúng theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Ngày 15 tháng 5 năm 2017, chị N có cho bà Nguyễn Thị Cẩm H vay số tiền 170.000.000đ, có làm biên nhận nợ, thời hạn vay là 07 ngày, lãi suất 1.000.000đ/3.000đ/ngày. Việc vay bà H làm biên nhận và có thế chấp cho chị N bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa BP 928943, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH06513, ngày 31 tháng 12 năm 2013, do bà H đứng tên. Do vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên chị N yêu cầu bà H hoàn trả số tiền vay vốn là 170.000.000đ và lãi tính từ 15/5/2017 đến ngày 28/6/2017, với mức lãi 1,66%/tháng, thành tiền là 4.044.000đ. Tổng cộng vốn và lãi là 174.044.000đ, Chị N đồng ý hoàn trả cho bà H bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa BP 928943, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH06513, ngày 31 tháng 12 năm 2013 do bà H đứng tên. Bà H đồng ý hoàn trả cho chị N vay vốn là 170.000.000đ, còn lãi không đồng ý và yêu cầu được trả dần số tiền trên.
Xét thấy yêu cầu của chị N là có căn cứ, vì bà H cũng thừa nhận và đồng ý hoàn trả số tiền vốn vay 170.000.000đ cho chị N, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với khoản tiền lãi mà chị N yêu cầu từ 15/5/2017 đến ngày 28/6/2017, mức lãi 1,66%/tháng thành tiền là 4.044.000đ. Xét thấy là phù hợp với pháp luật. Đồng thời, tại biên bản hòa giải của Tòa án bà H cũng đồng ý hoàn trả số tiền lãi này.
Việc bà H yêu cầu được trả dần số tiền trên cho chị N, nhưng chị N không đồng ý, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu của bà H là có căn cứ.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N buộc bà H có nghĩa vụ hoàn trả cho chị N vốn vay 170.000.000đ và lãi là 4.044.000đ là phù hợp với các Điều 463, 466 và 468 của Bộ luật dân sự.
Đối với số tiền hoàn trả mà bà H chậm thực hiện nhĩa vụ thì bà H phải có nghĩa vụ trả lãi được quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự.
Việc chị N đồng ý hoàn trả cho bà H bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa BP 928943, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH06513, ngày 31 tháng 12 năm 2013, bà H cũng đồng y, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Do yêu cầu của chị N được chấp nhận, nên chị N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền buộc phải hoàn trả cho chị N theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: khoản 3 Điều 26; Điều 35 và Điều 39; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 357; 463, 466 và 468 của Bộ luật dân sự; Điều 26 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
2. Chấp nhận yêu cầu của Lê Ngọc Thu N.
Buộc Nguyễn Thị Cẩm H hoàn trả cho Lê Ngọc Thu N số tiền vay vốn 170.000.000đ (Một trăm bảy chục triệu đồng) và lãi là 4.044.000đ (Bốn triệu không trăm bốn mươi bốn ngày đồng, tổng cộng là 174.044.000đ (một trăm bảy mươi bốn triệu không trăm bốn mươi bốn ngàn đồng).
Đối với số tiền hoàn trả khi có đơn yêu cầu thi hành án của chị N mà bà H chậm thi hành án, thì bà H còn phải trả thêm phần lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chậm thi hành cho đến khi thi hành xong.
Lê Ngọc Thu N có nghĩa vụ hoàn trả cho Nguyễn Thị Cẩm H bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số bìa BP 928943, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH06513, ngày 31 tháng 12 năm 2013 do bà H đứng tên.
3. Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Cẩm H phải chịu là 8.702.000đ (Tám triệu bảy trăm lẻ hai ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Lê Ngọc Thu N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, chị N được nhận lại số tiền 4.351.000đ (Bốn triệu ba trăm năm mươi mốt ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 16540, ngày 18/7/2017 của Chi cục thi hành án dân huyện Lấp Vò, Đồng Tháp.
3. Chị N, bà H có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
| Nơi nhận: - TAND tỉnh ĐT. - VKSND H.Lấp Vò. - CC THADS H.Lấp Vò. - Các đ/s. - Lưu HS, AV, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Nhã |