- Tranh chấp gì? án hình sự — "lừa đảo - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 139 Bộ luật Hình sự; Điều 174 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 428/2025/HS-PT Ngày: 16/05/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội Đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Huân
Các Thẩm phán
: Ông Trương Thành Trung
Bà Đặng Thị Thanh Huyền
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Duy Trung
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: Bà Phạm Thị Mai - Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 05 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 297/2025/TLPT-HS ngày 27/03/2025 do có kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của người bị hại đối với bản án hình sự sơ thẩm số 08/2025/HSST ngày 18/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai - Hà Nội.
- Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Hàm T, S năm 1974; Giới tính: Nam; Nguyên quán: Xã S, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; Nơi thường trú: Khối, thị trấn Đô Lương, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện tại: Trường Thành, khối, phường Trường Thi, Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ, cấp bậc (nếu có trước khi thực hiện hành vi phạm tội): Nguyễn Hàm T là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam S hoạt tại Sư đoàn 324, Quân khu 4. Quá trình công tác tại đơn vị, Nguyễn Hàm T viết đơn xin phục viên và được các cấp xét duyệt phục viên ngày 12/6/2013. Đến ngày 27/11/2013, Đảng bộ Sư đoàn 324, Quân khu 4 ra Quyết định số: 52/QĐ/ĐU xoá tên trong danh sách Đảng viên đối với Nguyễn Hàm T; Con ông Nguyễn Hàm Tr (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; Vợ: Nguyễn Thị H; Có 02 con, con lớn S năm 2005, con nhỏ S năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/08/2024 tại Trại tạm giam số 1 đến nay. (Có mặt)
* Người bị hại kháng cáo: Ông Tào Văn S, S năm 1965; Địa chỉ: Xóm T, thôn N, xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội. (Có đơn xin vắng mặt)
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Ngọc Khiêm - Luật sư Công ty Luật TNHH Tuệ Lâm - Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án như sau: Nguyễn Hàm T là người cùng quê với anh Nguyễn Trọng Th là con rể của ông Tào Văn S. Khoảng cuối năm 2013, T nhiều lần đến gia đình ông Tào Văn S chơi. Quá trình nói chuyện, T kể với ông S bản thân đang là sỹ quan quân đội, quen biết nhiều lãnh đạo cấp cao. Ông S cho biết đang có nhu cầu xin việc cho con gái là Tào Thị L. T nói có thể xin việc cho L làm công chức nhà nước ở Thành phố Hà Nội với số tiền 300.000.000 đồng thì ông S đồng ý.
Sáng ngày 10/3/2014, tại gia đình ông S ở thôn N, xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội, ông S và vợ là bà Đỗ Thị P đã đưa cho T số tiền 300 triệu đồng, nhờ T xin cho L làm công chức tại Thành phố Hà Nội. T nhận tiền và tự viết 01 giấy biên nhận nội dung: “Tên tôi là Nguyễn Hàm T, S ngày 16/02/1974. Số CMND: 186889967 cấp ngày 13/4/2007, nơi cấp: Công an Nghệ An. Tôi nhận số tiền 300.000.000 đồng của ông Tào Văn S, S năm 1965, quê quán, Ngọc Mỹ, Quốc Oai. Nơi giao tiền tại nhà ông Tào Văn S, xóm trại, Ngọc Than, Ngọc Mỹ, Quốc Oai. Lý do lo việc cho cháu Tào Thị L, trong thời gian sau 03 tháng không lo được tôi chịu trách nhiệm trả lại số tiền trên. Tôi xin cam đoan và chịu trách nhiệm trước pháp luật”. Sau khi nhận tiền của ông S, T đã tiêu sài cá nhân hết. Sau ba tháng, ông S nhiều lần điện thoại yêu cầu T trả lại tiền nhưng T không trả mà đổi số điện thoại, thay đổi chỗ ở để trốn tránh. Ông S đã làm đơn trình báo đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Quốc Oai.
Ngày 19/8/2024, Nguyễn Hàm T đến Công an huyện Quốc Oai đầu thú khai nhận hành vi của mình. Tại Cơ quan điều tra, bị cáo T khai báo quanh co về việc sử dụng số tiền 300 triệu đã nhận của ông S (ban đầu khai đưa cho bà Nguyễn Thị Th (S năm 1959; HKTT: Xã N, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An) để lo việc cho L; sau một năm, thấy bà Th không xin được việc thì đòi lại số tiền trên nhưng bà Th chỉ trả cho T 60.000.000 đồng. Sau đó, T tiếp tục đưa cho bà Nguyễn Thị L (S năm 1957; HKTT: Xã K, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An) số tiền 180.000.000 đồng nhờ bà L xin việc cho chị Tào Thị L. Ngày 17/10/2024, T thay đổi lời khai đã đưa số tiền 300.000.000 đồng cho một người nữ giới tên Tr (S năm 1972, cùng quê tại Nghệ An; T không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ của Tr, T và Tr quen tại các buổi họp đồng hương tại quán cà phê gần khách sạn Kim Liên) nhờ xin việc cho L, sau đó, T mất liên lạc với Tr nên không lấy lại được số tiền trên. Do bản thân không có khả năng chi trả nên T đã đổi số điện thoại liên lạc và chuyển chỗ ở nhằm tránh việc trả lại tiền cho ông Tào Văn S.
Vật chứng thu giữ: 01 giấy nhận tiền giữa Nguyễn Hàm T và ông Tào Văn S đề ngày 10/3/2014.
Ngày 17/06/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội đã ra quyết định trưng cầu giám định số: 986 về nội dung giấy nhận tiền Nguyễn Hàm T và ông Tào Văn S.
Tại Kết luận giám định số: 4360/KL-KTHS ngày 19/06/2024, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP Hà Nội kết luận: Chữ viết phần nội dung, chữ viết dòng họ tên Nguyễn Hàm T (dưới chữ ký) trên mẫu cần giám định (Ký hiệu A- Giấy biên nhận tiền) với chữ viết đứng tên Nguyễn Hàm T trên các mẫu so sánh (ký hiệu M1,M2 – tờ khai làm căn cước công dân của T) là chữ do cùng một người viết ra. Không đủ cơ sở kết luận chữ ký đứng tên Nguyễn Hàm T trên mẫu cần giám định (ký hiệu A) với chữ ký đứng tên Nguyễn Hàm T trên các mẫu so sánh (Ký hiệu M1 đến M4) có phải là chữ do cùng một người ký ra hay không.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 22/8/2024, anh Nguyễn Hàm Th (em trai bị cáo T) đã nộp số tiền 300.000.000 đồng để khắc phục hậu quả cho T. Ngày 04/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Quốc Oai đã giao trả cho ông Tào Văn S số tiền nêu trên. Ông S đã nhận đủ tiền và không có đề nghị gì thêm về dân sự, đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.
Tại bản cáo trạng số 01/CT - VKSQO ngày 07/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quốc Oai truy tố bị cáo Nguyễn Hàm T, về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a Khoản 3 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 (nay là điểm a khoản 3 Điều 174 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).
Tại bản án số 08/2025/HSST ngày 18/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai - Hà Nội đã quyết định.
Tuyên bố: Nguyễn Hàm T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng điểm a Khoản 3 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 (nay là điểm a Khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Hàm T 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/08/2024.
Bản án còn quyết định án phí.
Không đồng ý với bản án sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Hàm T có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Người bị hại là ông Tào Văn S có đơn kháng cáo đề nghị tăng hình phạt đối với bị cáo và đề nghị buộc bị cáo phải bồi thường khoản tiền tổn thất tinh thần.
Tại phiên tòa: Trước khi xét xử bị cáo Nguyễn Hàm T có đơn xin rút đơn kháng cáo.
Người bị hại là ông Tào Văn S có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội có quan điểm giải quyết vụ án đã đề nghị:
- Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hàm T, người bị hại ông Tào Văn S trong thời hạn luật định nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận theo trình tự phúc thẩm.
- Về nội dung vụ án: Bị cáo có hành vi nhận 300.000.000 đồng của ông S và hứa hẹn xin việc cho chị L nhưng không xin việc mà chiếm đoạt. Hành vi của bị cáo đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là có căn cứ.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Cấp sơ thẩm xử phạt 36 tháng tù phù hợp. Bị cáo rút kháng cáo nên đình chỉ xét xử với kháng cáo của bị cáo. Về yêu cầu bồi thường của ông S không có căn cứ chấp nhận.
Đề nghị:
* Căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hàm T.
* Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại ông Tào Văn S. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 08/2025/HSST ngày 18/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai
- Hà Nội.
Tuyên bố: Nguyễn Hàm T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng điểm a Khoản 3 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 (nay là điểm a Khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Hàm T 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/08/2024.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
* Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét: Gia đình bị cáo đã bồi thường đủ số tiền chiếm đoạt, bị cáo có thời gian dài phục vụ trong quân đội. Cấp sơ thẩm không giải quyết việc bồi thường vì đã bồi thường xong. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hàm T và đơn kháng cáo của người bị hại ông Tào Văn S trong thời hạn luật định nên Hội đồng xét xử chấp nhận theo trình tự phúc thẩm.
- Về nội dung: Căn cứ vào lời khai của Nguyễn Hàm T, lời khai của người bị hại ông Tào Văn S, người có quyền, nghĩa vụ liên quan cùng các tài liệu điều tra có đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ cuối năm 2013 đến ngày 10/3/2014, tại nhà ông Tào Văn S ở thôn N, xã Ngọc Mỹ, huyện Quốc Oai, Thành phố Hà Nội, Nguyễn Hàm T không có chức năng, nhiệm vụ và khả năng xin việc cho chị Tào Thị L, nhưng đã cung cấp thông tin gian dối, hứa hẹn để ông Tào Văn S (bố chị L) tin tưởng và giao cho Nguyễn Hàm T số tiền 300.000.000 đồng để T xin việc cho chị L. Sau khi nhận được tiền, T không xin việc cho L như đã hứa hẹn mà tiêu sài cá nhân hết số tiền trên, sau đó thay đổi số điện thoại, chuyển chỗ ở để chiếm đoạt số tiền 300.000.000 đồng của ông Tào Văn S. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hàm T đã bị Cấp sơ thẩm xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a Khoản 3 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 (nay là điểm a khoản 3 Điều 174 BLHS năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017) là có căn cứ.
- Trước khi xét xử phúc thẩm bị cáo T xin rút kháng cáo. Căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo T.
Xét kháng cáo của người bị hại ông Tào Văn S, Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối hứa hẹn xin việc cho chị L con ông Tào Văn S để ông S tin tưởng giao cho bị cáo 300.000.000 đồng. Sau đó bị cáo không xin việc cho chị L như đã hứa hẹn mà chiếm đoạt. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất, mức độ hành vi phạm tội, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, ra đầu thú, bị cáo đã tác động gia đình để bồi thường toàn bộ số tiền chiếm đoạt, bị cáo có bố mẹ đẻ là người có thành tích trong kháng chiến chống Mỹ, được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì, người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để quyết định xử phạt bị cáo 36 tháng tù là phù hợp nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt của người bị hại.
Đối với yêu cầu tăng bồi thường khoản tiền tổn thất tinh thần. Số tiền bị cáo T chiếm đoạt 300.000.000 đồng đã được anh Nguyễn Hàm Th là em trai bị cáo T đã nộp cho Cơ quan điều tra. Cơ quan điều tra đã trao trả cho ông Tào Văn S là bị hại trong vụ án. Ông S đã nhận đủ số tiền trên. Về kháng cáo của ông S yêu cầu bị cáo phải bồi thường cho ông khoản tiền tổn thất tinh thần. Yêu cầu này của ông S không có căn cứ chấp nhận.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí: Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Do kháng cáo của bị hại không được chấp nhận nên bị hại phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
* Căn cứ Điều 348 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Nguyễn Hàm T.
* Căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại ông Tào Văn S. Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 08/2025/HSST ngày 18/02/2025 của Tòa án nhân dân huyện Quốc Oai - Hà Nội.
Tuyên bố: Nguyễn Hàm T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Áp dụng điểm a Khoản 3 Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 (nay là điểm a Khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017); điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Hàm T 36 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/08/2024.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí: Áp dụng nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Bị hại ông Tào Văn S phải nộp 300.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Hà Nội; - TAND huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội; - VKSND huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội; - Chi cục THADS huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội; - Công an huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội; - Bị cáo, những người tham gia tố tụng khác; - Lưu HSVA, VP | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà . Nguyễn Ngọc Huân |