vanban.org

Bản án 428/2020/HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,Điểm 1.

Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Hoàng Thị Y đối với anh Nguyễn Bá V. Chị Hoàng Thị Y được ly hôn với anh Nguyễn Bá V. Về con chung: Chị Y và anh V có 02 con chung là Nguyễn Thanh T sinh ngày 15/7/2003 và Nguyễn Thị Bích N sinh ngày 22/02/2009. Ly hôn giao 02 cháu Nguyễn Thanh T và Nguyễn Thị Bích N… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,Điểm 1.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử chị Hoàng Thị Y; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐÔNG ANH
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 428/2020/HNGĐ-
ST
Ngày: 11 - 8 - 2020.
Về việc tranh chấp ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Lương Vân. Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Đệ.

Bà Nguyễn Thị Mai.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hường – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Đông Anh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 11/8/2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 172/2020/TLST - HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2020 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2020/QĐXXST– HNGĐ ngày 07 tháng 7 năm 2020; Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2020/QĐST – HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Y,sinh năm 1981.

Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Tổ 6 thị trấn QM, huyện ML, thành phố Hà Nội ( Có mặt )

Bị đơn: AnhNguyễn Bá V, sinh năm 1974.

Hộ khẩu thường trú và nơi cư trú: Thôn TM, xã NH, huyện ĐA, thành phố Hà Nội (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 10/3/2020 và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn chị Hoàng Thị Y trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Hoàng Thị Y kết hôn với anh Nguyễn Bá V trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Nam Hồng, Đông Anh, Hà Nội ngày 05/12/2013. Đây là lần kết hôn thứ 2 của anh chị, trước đó anh chị đã ly hôn lần một tại Tòa án nhân dân huyện Đông Anh. Sau khi đăng ký kết hôn lại vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì lại xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là không hợp nhau về tính cách, quan điểm sống, anh V không quan tâm đến vợ con, luôn đòi chị Y phải đưa tiền cho anh tiêu, nếu chị Y không đưa thì đánh đập chị.

Về con chung: Chị Y và anh V có 02 con chung là Nguyễn Thanh T, sinh ngày 15/7/2003 và Nguyễn Thị Bích N, sinh ngày 22/02/2009. Hiện nay hai cháu đang ở với chị Y. Ly hôn chị Y yêu cầu được nuôi cả hai con và không đề nghị Tòa án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng.

Về tài sản chung, công sức, nợ: Chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn là anh Nguyễn Bá V đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ nhưng anh V từ chối làm việc với Tòa án.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 06/7/2020bà Hà Thị P là mẹ đẻ của anh Nguyễn Bá V trình bày:Anh V chị Y kết hôn năm 2013. Đây là lần kết hôn thứ 2 của anh chị, trước đó anh chị đã ly hôn một lần sau lại đăng ký kết hôn lại với nhau. Chị Y là người con dâu tốt, không có điều tiếng gì, lỗi là do con trai bà không quan tâm chăm sóc gia đình, anh V làm thợ cơ khí nhưng kiếm được tiền không đưa cho vợ, lại đòi hỏi chị Y phải đưa tiền cho anh tiêu dùng, nếu chị Y không đưa tiền thì anh V đánh chị Y. Bà P xác định tình cảm vợ chồng anh V chị Y không thể hàn gắn, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị ly hôn.

Về con chung: Chị Y và anh V có 02 con chung là Nguyễn Thanh T, sinh ngày 15/7/2003 và Nguyễn Thị Bích N, sinh ngày 22/02/2009. Hiện nay hai cháu đang ở với chị Y. Ly hôn, việc giải quyết về con chung do anh chị tự quyết định.

Về tài sản chung, công sức, nợ: Chị Y anh V không có tài sản chung gì, không nợ bà P gì.

Tại phiên tòa hôm nay:

Tại phiên tòa:

- Chị Y xác định tình cảm không còn, chị yêu cầu được ly hôn anh V.

-Về con chung: Chị xin được nuôi hai con chung và không yêu cầu anh V cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay hai con đang ở với chị Y, chị bán đồ ăn sáng, có thu nhập ổn định, anh V làm thợ cơ khí nhưng thu nhập không ổn định, mặt khác từ trước đến nay anh không quan tâm chăm sóc gì đến các con.

-Về tài sản chung, công sức, nợ: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh phát biểu quan điểm:

-Hội đồng xét xử và các đương sự đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật

-Về nội dung đề nghị hội đồng xét xử:

+ Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Y đối với anh V.

+Về con: Giao hai con cho chị Y chăm sóc, nuôi dưỡng.

+ Về tài sản và nhà ở: Không yêu cầu Tòa án giải quyết .

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, nhận định:

Về tố tụng: Bị đơn anh Nguyễn Bá V đã được tống đạt hợp lệ đến phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt lần thứ hai, do vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh V theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: chị Hoàng Thị Y và anh Nguyễn Bá V tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Nam Hồng, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội ngày 05/12/2013 nên quan hệ hôn nhân của anh chị là hợp pháp được pháp luật thừa nhận. Quá trình chung sống anh chị xảy ra mâu thuẫn, chị Y có đơn xin ly hôn với anh V, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn”.

Về nội dung:

Về tình cảm: Chị Hoàng Thị Y và anh Nguyễn Bá V kết hôn trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Nam Hồng, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội ngày 05/12/2013. Đây là lần kết hôn thứ hai của anh chị, trước đây anh chị đã ly hôn nhau một lần sau đó lại đăng ký lại với nhau. Sau khi kết hôn lại, anh chị chung sống hạnh phúc được một thời gian thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh chị không hợp nhau về tính cách, quan điểm sống, anh V không quan tâm đến vợ con, luôn đòi chị Y phải đưa tiền cho anh tiêu, nếu chị Y không đưa thì đánh đập chị.

Nay tình cảm vợ chồng không còn, chị Y cương quyết xin ly hôn anh Vinh.

Về phía anh V Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh V từ chối làm việc với Tòa án nên Tòa án xét xử vắng mặt anh V.

Qua xác minh tại chính quyền địa phương thì xác định chị Y và anh V đã ly hôn một lần vào năm 2012 sau đó năm 2013 quay lại với nhau và có đăng ký kết hôn lại. Sau khi kết hôn lại có mâu thuẫn, còn nguyên nhân mâu thuẫn cụ thể thì địa phương không nắm rõ, địa phương đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Chị Y và hai con đã về nhà bố mẹ đẻ chị Y ở huyện ML sinh sống. Nay chị Y xin ly hôn đề nghị giải quyết theo pháp luật, nếu anh chị không chung sống được với nhau thì cho ly hôn.

Căn cứ các tài liệu Tòa án thu thập có trong hồ sơ thể hiện mâu thuẫn vợ chồng chị Y và anh V là có thật, vợ chồng anh chị đã ly thân mỗi người sống một nơi không ai quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Xét thấy mâu thuẫn giữa chị Y và anh V đã trầm trọng không thể hàn gắn được, anh chị đã sống ly thân, không còn quan tâm chăm sóc đến nhau nữa, cuộc sống vợ chồng giữa chị Y và anh V không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị Y xin ly hôn với anh V là có căn cứ và phù hợp quy định của pháp luật. Vì vậy nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Y.

Do anh V không đến Tòa án để tham gia tố tụng tại Tòa án, nên Tòa án không tiến hành hòa giải được. Vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự, điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử chị Hoàng Thị Y được ly hôn anh Nguyễn Bá V.

Về con chung: Chị Y và anh V có 02 con chung là Nguyễn Thanh T, sinh ngày 15/7/2003 và Nguyễn Thị Bích N, sinh ngày 22/02/2009. Nguyện vọng của chị Y được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con vì hiện nay chị có nơi ở và thu nhập ổn định.

Xét về điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng con chung: Chị Y hiện nay đang bán đồ ăn sáng và có nơi ở ổn định. Mặt khác cháu T và cháu N đang ở cùng chị Y có điều kiện thuận lợi để học tập và sinh sống. Hội đồng xét xử thấy cần thiết giữ nguyên hiện trạng như hiện nay, giao cháu T và cháu N cho chị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung, công sức chung: Chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Y phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

- Điều 51, Điều 56, Điều 57,Điều 58,Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, Điều 203, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,Điểm 1.1 mục 1 phần II Danh mục án phí, lệ phí Tòa án (ban hành kèm theo Nghị quyết).

Xử:

1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Hoàng Thị Y đối với anh Nguyễn Bá V. Chị Hoàng Thị Y được ly hôn với anh Nguyễn Bá V.

2. Về con chung: Chị Y và anh V có 02 con chung là Nguyễn Thanh T sinh ngày 15/7/2003 và Nguyễn Thị Bích N sinh ngày 22/02/2009. Ly hôn giao 02 cháu Nguyễn Thanh T và Nguyễn Thị Bích N cho chị Hoàng Thị Y trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc kể từ tháng 8/2020 cho đến khi con chung thành niên hoặc đến khi có sự thay đổi khác.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Y không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra giải quyết.

Anh V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở

3. Về tài sản chung, nợ chung, công sức chung: Chị Y không yêu cầu giải quyết, nên Tòa án không xem xét.

4. Về án phí: Chị Hoàng Thị Y phải chịu tiền án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số AA/2018/0016114 ngày 07/05/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Anh.

5.Chị Hoàng Thị Y có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Bá V vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ