- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Thị L phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt ma tuý (điều 194 Bộ luật hình s…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa; giữ nguyên quyết định về áp dụng pháp luật và hình phạt đối với bị cáo Hoàng Thị L tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2018/HSST ngày 31/01/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? Điều 194 Bộ luật Hình sự; Điều 33 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TẠI HÀ NỘI _________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 428/2018/HSPT Ngày: 27/6/2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thu;
Các Thẩm phán:
Ông Võ Hồng Sơn;
Ông Thái Duy Nhiệm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Nga, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Đào Trọng Thuyết, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ L số 209/2018/TLPT-HS ngày 14 tháng 3 năm 2018 đối với bị cáo Hoàng Thị L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” do kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2018/HSST ngày 31 tháng 01 năm 2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
* Bị cáo bị kháng nghị:
Hoàng Thị L (còn có tên gọi khác là Hoàng Thị L1), sinh năm 1973; ĐKHKTT: Thôn YP, xã TY, huyện SL, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi ở: Số 181 TĐT, phường HB, quận ĐĐ, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; văn hóa: Lớp 5/12; con ông Hoàng Kế Ng (đã chết) và bà Trương Thị N; có chồng là Trần Ngọc C; có 01 con; tiền án: Ngày 15/7/1997, Tòa án nhân dân huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn, xử phạt Hoàng Thị L 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; ngày 12/3/2003, Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn xử phạt Hoàng Thị L 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; ngày 25/11/2010, Tòa án nhân dân quận Đống Đa, thành phố Hà Nội xử phạt Hoàng Thị L 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/01/2016; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2016 đến nay; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị Hiền Lg - Luật sư của Công ty Luật TNHH QTHN thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Thanh Hóa; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Hồi 18 giờ 40 phút ngày 29/12/2016, tại đường Đông Hương 2, phố Bào Ngoại, phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, Tổ công tác Đội 3 thuộc Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Thanh Hóa phát hiện, bắt quả tang Hoàng Thị L đang vận chuyển trái phép chất ma túy với mục đích mang đi bán. Vật chứng thu giữ gồm: Trong túi nilon màu xanh có túi nilon màu trắng bên trong đựng các cục vụn màu trắng dạng tinh thể (nghi là ma túy đá). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Hoàng Thị L, thu giữ, niêm phong tang vật. Ngoài ra Tổ công tác còn thu giữ của Hoàng Thị L hai điện thoại di động để phục vụ công tác điều tra.
Tại Bản kết luận giám định số 273/MT-PC54 ngày 03/01/2017, Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa kết luận: Vật chứng thu giữ của Hoàng Thị L ngày 29/12/2016 tại đường Đông Hương 2, phố Bào Ngoại, phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa là các cục vụn màu trắng dạng tinh thể có tổng trọng lượng 417,450 gam, giám định có Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục II, STT 67, Nghị định số 82/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.
Quá trình điều tra, Hoàng Thị L khai nhận: Sáng ngày 29/12/2016, L được một người đàn ông tên Tg sống lang thang tại khu vực bến xe Giáp Bát, thành phố Hà Nội đặt vấn đề thuê Hoàng Thị L mang một gói ma túy đá từ thành phố Hà Nội vào thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa để bán cho khách của Tg. Tg sẽ trả tiền công cho L l.000.000 đồng, L đồng ý nhận lời. Thỏa thuận xong, Tg đưa gói ma túy đá đựng trong túi nilon và trả tiền công l.000.000 đồng cho L. Sau khi nhận gói ma túy đá và tiền công, L rủ bạn là Đỗ Kim O, đi cùng L vào Thanh Hóa chơi. Khoảng 15 giờ cùng ngày, L, O cùng nhau đi xe khách đến Thanh Hóa. Khi đi, L mang theo túi nilon đựng gói ma túy đá và đồ dùng cá nhân của L. Khoảng 18 giờ cùng ngày, L, O xuống xe khách để đi taxi đến gần cổng chợ đầu mối thuộc địa phận phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa giao ma túy cho khách của Tg. Khi L đang đi bộ cùng O trên vỉa hè đường gần cổng chợ thì bị Tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Thanh Hóa yêu cầu kiểm tra. L đã ném túi nilon có gói ma túy đá xuống vỉa hè thì bị Tổ công tác phát hiện, bắt quả tang, thu giữ niêm phong tang vật.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2018/HSST ngày 31/01/2018, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã áp dụng điểm e khoản 3, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; xử phạt bị cáo Hoàng Thị L 18 (mười tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2016. Phạt bị cáo 5.000.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử L vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 8/02/2018, Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã ra Quyết định kháng nghị số 04/QĐ-VKS-P1 đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội áp dụng điểm e khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự để tăng hình phạt đối với bị cáo với L do: Trọng lượng ma túy bị cáo mua bán là 417,450 gam Methamphetamine, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điểm e khoản 3 Điều 194 để xử phạt bị cáo là không đúng pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội mình đã thực hiện đúng như nội dung vụ án như đã nêu trên và đề nghị Hội đồng xem xét giữ nguyên hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội giữ nguyên kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm e khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự để tăng hình phạt đối với bị cáo.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Căn cứ kết luận giám định hàm lượng Methamphetamine thu giữ được, Tòa án cấp sơ thẩm xác định bị cáo chỉ mua bán trái phép 263,911 gam thuộc trường hợp quy định tại điểm e khoản 3 Điều 194 Bộ luật hình sự là đúng pháp luật. Mức án 18 năm tù đối với bị cáo là đủ giáo dục, răn đe. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng nghị, giữ nguyên án sơ thẩm đối với bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
C¨n cø vµo c¸c chøng cø, tµi liÖu ®· ® îc thÈm tra t¹i phiªn toµ phóc thÈm; kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ, trªn c¬ së xem xÐt ®Çy ®ñ, toµn diÖn tµi liÖu, chøng cø, ý kiÕn cña KiÓm s¸t viªn, LuËt s , bÞ c¸o, sau khi th¶o luËn vµ nghÞ ¸n, Héi ®ång xÐt xö cã c¸c nhËn ®Þnh sau ®©y:
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Thị L khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, vật chứng cơ quan điều tra đã thu giữ, kết quả giám định, lời khai của người làm chứng. Do đó có đủ căn cứ để xác định hành vi phạm tội của Hoàng Thị L như sau: Hồi 18 giờ 40 phút ngày 29/12/2016, tại đường Đông Hương 2, phố Bào Ngoại, phường Đông Hương, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, Hoàng Thị L bị bắt quả tang khi đang vận chuyển trái phép 417,450 gam có Methamphetamine đi bán cho khách. Căn cứ kết luận giám định số 1945/MT-PC54 ngày 15/11/2017 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa thì hàm lượng Methamphetamine mà L mua bán là 63,22%. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định trọng lượng tinh chất Methamphetamine thu giữ của bị cáo là 263,911g (417,450 gam x 63,22%) là đúng pháp luật.
Hành vi phạm nêu trên của bị cáo Hoàng Thị L đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuy” thuộc trường hợp quy định tại điểm e khoản 3 Điều 194 Bộ luật hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng điều khoản này để xử phạt bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm đến chế độ quản lý ma tuý của Nhà nước, xâm phạm trật tự tri an xã hội, làm gia tăng tội phạm hình sự khác và các loại tệ nạn xã hội mà còn làm xói mòn đạo đức, huỷ hoại con người về thể chất cũng như tinh thần. Do đó, cần thiết phải có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để vừa có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo vừa đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung.
Xét kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa cũng như quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo quy định tại Điều 194 và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành thì việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định trọng lượng Methamphetamine tinh chất thu giữ của bị cáo là 263,911g thuộc trường hợp quy định tại điểm e khoản 3 Điều 194 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Do đó kháng nghị đề nghị Hội đồng phúc thẩm áp dụng điểm e khoản 4 Điều 194 Bộ luật hình sự trong trường hợp này không được chấp nhận.
Hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Thị L là rất nghiêm trọng. Bị cáo có nhân thân xấu đã ba lần bị xử phạt tù đều về các tội mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy, hoàn toàn ý thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng đã bất chấp, cố ý thực hiện hành vi phạm tội với tính chất, mức độ ngày càng nghiêm trọng hơn. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Bị cáo chỉ có một tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo. Với tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ xét thấy mức hình phạt 18 năm tù trong trường hợp này là tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Do đó, không chấp nhận kháng nghị tăng hình phạt đối với bị cáo.
Vì các lẽ trên, căn cứ Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;
QUYẾT ĐỊNH
1. Không chấp nhận kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa; giữ nguyên quyết định về áp dụng pháp luật và hình phạt đối với bị cáo Hoàng Thị L tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2018/HSST ngày 31/01/2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, cụ thể như sau:
Áp dụng điểm e khoản 3, khoản 5 Điều 194; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; Điều 33 Bộ luật hình sự năm 1999; xử phạt bị cáo Hoàng Thị L (còn có tên gọi khác là Hoàng Thị L1) 18 (mười tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2016.
2. Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 27/6/2018).
| Nơi nhận: - VKSNDCC tại Hà Nội; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Công an tỉnh Thanh Hóa; - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa; - Trại tạm giam CA tỉnh Thanh Hóa; - Bị cáo (qua trại); - Lưu HS, PHC-TP. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Minh Thu |