- Tranh chấp gì? Tranh chấp về thừa kế tài sản — án dân sự — "Bà D, bà Đ kiện bà N yêu cầu chia thừa kế tài sản"
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 427/2023/DS-PT Ngày 28-9-2023 V/v tranh chấp thừa kế tài sản và tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Thành Trung
Các Thẩm phán:
Ông Bùi Ngọc Thạch
Ông Ngô Văn Minh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Song Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- i diện Viện i m sát nhân dân t nh nh ương tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Phước - i m sát viên.
Ngày 28 tháng 9 năm 2023, tại trụ s Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương, xét xử ph c th m công khai vụ án dân s thụ lý số 204/2023/TLPT-DS ngày 19/6/2023 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản và tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân s sơ th m số 17/2023/DS-ST ngày 04/4/2023 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) UT, tỉnh Bình Dương ị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 268/2023/QĐ-PT ngày 04 tháng 7 năm 2023, giữa các đương s :
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1990 và à Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1994; cùng đại chỉ: số 0474 tổ 3, khu phố Ba Đình, phường TH, thành phố UT, tỉnh Bình Dương; ủy quyền cho ông Đào Đức Nh, sinh năm 1991; địa chỉ: số nhà 204, tổ 5, khu phố 4, phường VT, thành phố UT, tỉnh Bình Dương; có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1964; địa chỉ: số nhà 019, tổ 5, khu phố Tân An, phường TV, thành phố UT, tỉnh Bình Dương; ủy quyền cho ông Đặng TP, sinh năm 1958; địa chỉ: 249/39/9 Nguyễn Văn Lộng, phường CM, thành phố TD, tỉnh Bình Dương (theo Giấy ủy quyền ngày 02/8/2023); có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1955; địa chỉ: số nhà 018, tổ 5, khu phố Tân An, phường TV, thành phố UT, tỉnh Bình Dương; có mặt.
2. Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1961; địa chỉ: tổ 5, khu phố Tân An, phường TV, thành phố UT, tỉnh Bình Dương; có yêu cầu xét xử vắng mặt.
3. Ông Nguyễn Tấn B, sinh năm 1986; địa chỉ: tổ 5, khu phố Tân An, phường TV, thành phố UT, tỉnh Bình Dương; ủy quyền cho ông Đặng TP, sinh năm 1958; địa chỉ: 249/39/9 Nguyễn Văn Lộng, phường CM, thành phố TD, tỉnh Bình Dương (theo Giấy ủy quyền ngày 26/9/2023), có mặt.
4. Bà Đoàn Thị im H1, sinh năm 1969; địa chỉ: số 0474 tổ 3, khu phố Ba Đình, phường TH, thành phố UT, tỉnh Bình Dương; có yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Người háng cáo: ị đơn à Nguyễn Thị N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H.
NỘI DUNG V ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày: Bà Nguyễn Thị D và à Nguyễn Thị Đ là con của ông Nguyễn Văn Đạt và à Đoàn Thị im H1. Ông Nguyễn Văn Đạt sinh năm 1971; chết ngày 30/4/1997, theo Bản sao giấy chứng tử số 78/2003, quy n số 01 do UBND xã TV, thị xã UT cấp ngày 31/12/2015. Ông Nguyễn Văn Đạt là con của ông Nguyễn Văn Dồi và à Châu Thị Nữa. Ông Nguyễn Văn Dồi đã chết ngày 23/10/2015; à Châu Thị Nữa đã chết ngày 26/02/1998. Trước khi chết thì ông Dồi, à Nữa có với nhau 04 người con gồm: ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị G, à Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn Đạt (cha bà Nguyễn Thị D và à Nguyễn Thị Đ). Quá trình chung sống thì ông Dồi, à Nữa có tạo lập được một số tài sản gồm nhà và đất tại xã TV, thị xã UT, tỉnh Bình Dương. Căn nhà cấp 4 có diện tích 154m2 gắn liền với thửa đất số 423, tờ ản đồ số 12, diện tích đo đạc th c tế 3.939.4m2 tại phường TV, thị xã UT, tỉnh Bình Dương, được Ủy an nhân dân thị xã UT cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00402-QSDĐ/TU ngày 26/01/1999. Trước khi chết thì ông Nguyễn Văn Dồi, à Châu Thị Nữa không đ lại di ch c. Bà Nguyễn Thị D và à Nguyễn Thị Đ là con của ông Nguyễn Văn Đạt, do ông Nguyễn Văn Đạt chết trước ông Dồi, à Nữa nên à D, bà Đ là hàng thừa kế thế vị của ông Nguyễn Văn Đạt.
Hiện tại à N đang sinh sống và quản lý nhà đất nêu trên, à Nguyễn Thị D, à Nguyễn Thị Đ có yêu cầu à N làm thủ tục phân chia thừa kế cho các đồng thừa kế theo quy định nhưng à N không đồng ý. Vì vậy, à Nguyễn Thị D và à Nguyễn Thị Đ kh i kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau: Chia di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn Dồi, à Châu Thị Nữa nêu trên theo quy định của pháp luật, à D, bà Đ xin hư ng di sản ằng hiện vật là quyền sử dụng đất.
Quá trình giải quyết vụ án, ngày 13/10/2020, à Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị Đ xin r t lại một phần yêu cầu kh i kiện về việc chia di sản thừa kế căn nhà cấp 4. Chỉ yêu cầu chia di sản là quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 423, tờ ản đồ số 12 tại phường TV, thị xã UT, tỉnh Bình Dương. Đối với yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Tấn B, nguyên đơn không đồng ý và đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Tấn B.
* Bị đơn bà Nguyễn Thị N và người đại diện của bà đơn ông Nguyễn Văn H trình bày: Thống nhất trình ày của các nguyên đơn về di sản do ông Nguyễn Văn Dồi và à Châu Thị Nữa đ lại là thửa đất số 423, tờ ản đồ số 12 có diện tích đo đạc th c tế 3.939,4m2 tại phường TV, thị xã UT, tỉnh Bình Dương và tài sản gắn liền trên đất. Hàng thừa kế của ông Dồi, à Nữa gồm ông Nguyễn Văn H, à Nguyễn Thị N và à Nguyễn Thị G. Ông Nguyễn Văn Đạt là con của ông Nguyễn Văn Dồi và à Châu Thị Nữa tuy nhiên ông Nguyễn Văn Đạt đã chết trước ông Nguyễn Văn Dồi, à Châu Thị Nữa, đồng thời ông Nguyễn Văn Đạt và à Đoàn Thị im H1 chỉ sống chung một thời gian, không có đăng ký kết hôn, à Nguyễn Thị D, à Nguyễn Thị Đ cung cấp giấy khai sinh th hiện là con của ông Nguyễn Văn Đạt, tuy nhiên các giấy khai sinh này được Ủy an nhân dân phường TV cấp không đ ng trình t , thủ tục nên không có giá trị chứng minh à D, bà Đ là con của ông Đạt. Mặt khác năm 2018 à D, bà Đ có yêu cầu công nhận cha con tuy nhiên Phân viện Khoa học hình s tại Thành phố Hồ Chí Minh trả lời tại Công văn số 241/C54B ngày 10/8/2018 là không th giám định được. Do đó, à D, bà Đ không có quyền được hư ng thừa kế di sản do ông Dồi, à Nữa chết đ lại. Đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn. Đối với yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Tấn B thì ị đơn đồng ý.
* Theo đơn yêu cầu độc lập ngày 24/01/2022 và ngày 01/3/2022, t i phiên tòa, ông Nguyễn Tấn B trình bày: Sinh thời ông nội là Nguyễn Văn Dồi có tạo lập được căn nhà cấp 4 có diện tích 154m2 gắn liền với thửa đất số 423, tờ ản đồ số 12, diện tích đo đạc th c tế 3.939.4m2 tại phường TV, thị xã UT, tỉnh Bình Dương, được Ủy an nhân dân thị xã UT cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 00402-QSDĐ/TU cho ông Nguyễn Văn Dồi. Trước khi mất ông Dồi trải qua thời gian ệnh kéo dài, do đó gia đình gồm: Bà Nguyễn Thị N (cô của ông B), ông Nguyễn Văn H (cha của ông B), à Nguyễn Thị G (cô của ông B) và ông Nguyễn Văn Nồi (em ruột của ông Dồi) thống nhất lập giấy thỏa thuận ngày 20/9/2015 với nội dung mượn của ông B thửa đất 1267 tờ ản đồ 12 diện tích 1.134,6m2 tại phường TV, thị xã UT, tỉnh Bình Dương với mục đích án lấy tiền trang trải chi phí chữa ệnh cho ông Dồi và chuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00402-QSDĐ/TU làm thủ tục tách thửa phần đất ngang 15m dài 75m trả lại cho ông B nhưng chưa th c hiện được việc tách thửa thì ông Dồi chết. Ông B yêu cầu độc lập yêu cầu những người thừa kế của ông Dồi phải tách thửa trả cho ông phần đất ngang 15m dài 75m thuộc thửa đất số 423, tờ ản đồ số 12, diện tích đo đạc th c tế 1.119.3m2 tại phường TV, thị xã UT, tỉnh Bình Dương trước khi chia di sản theo quy định đ ông được sử dụng phần đất này.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị G trình bày: Thống nhất trình ày của các nguyên đơn về di sản do ông Nguyễn Văn Dồi, à Châu Thị Nữa đ lại, thống nhất về hàng thừa kế của ông Dồi, à Nữa gồm: Ông Nguyễn Văn H, à Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị G và các con của ông Nguyễn Văn Đạt là Nguyễn Thị D và Nguyễn Thị Đ. Do trước đây ngày 31/12/2019, ông H có kêu à ra công chứng ký văn ản ủy quyền đ ông H làm thủ tục chia thừa kế thửa đất của ông Dồi đ lại. Bà tin tư ng nên à đã ký văn ản tại phòng công chứng, l c đó à có nghe công chứng viên đọc văn ản công chứng có nội dung là từ chối nhận di sản, à có thắc mắc thì ông H nói cứ ký đi đ ông H làm thủ tục cấp giấy chứng nhận xong rồi sẽ tách thửa cho à. Do ông H là anh trai của à, à tin tư ng nên đã ký vào văn ản này. Nay à xác định là à không từ chối nhận di sản của cha mẹ đ lại, Tòa án giải quyết việc chia di sản thừa kế của ông Dồi, à Nữa đ lại theo yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn, à thống nhất và à xin được hư ng kỷ phần theo quy định của pháp luật. Về yêu cầu độc lập của ông B bà không đồng ý i lẽ nội dung trong thỏa thuận ngày 20/9/2015 à không được iết, à chỉ nhớ ông H có đưa văn ản này và kêu à ký sau khi ông Dồi đã chết được khoảng mấy tháng (cụ th à không nhớ rõ vì đã rất lâu) nên thỏa thuận đó không phải ý chí của ông Dồi, cũng không phải ý chí của à.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà oàn Thị im H1 trình bày: Do à và ông Nguyễn Văn Đạt không được tuổi nên gia đình ông Đạt không cho tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn tuy nhiên à và ông Đạt vẫn sống chung vợ chồng từ năm 1989 tại nhà của ông Dồi. Năm 1990 à sinh con gái đầu, đặt tên Nguyễn Thị D, lúc này ông Nguyễn Văn H chửi đuổi, không cho mẹ con à nhà chung với ông Dồi nên à và ông Đạt ra phần đất kế ên (cùng trên thửa 423) cất căn chòi lá đ sinh sống, che mưa che nắng, khi ấy con gái chỉ được mấy tháng tuổi. Quá trình chung sống đến năm 1994 à tiếp tục sinh người con thứ hai đặt tên là Nguyễn Thị Đ. hi ông Đạt ị tai nạn chết năm 1997, à và 02 con vẫn trên đất cho đến năm 2003 thì cuộc sống quá khó khăn, một mặt phải lo cho con nhỏ, một mặt lo tiền trả nợ vì trước đó đã vay mượn nhiều người điều trị cho ông Đạt, gia đình phía chồng và đặc iệt là ông Nguyễn Văn H luôn tìm cách gây khó khăn, muốn xua đuổi mẹ con à nên à đã khăn gói đưa các con về quê mình tại phường TH đ sinh sống cho đến nay. Trong thời gian sống chung với ông Đạt từ năm 1989 đến năm 1997, gia đình chồng đều iết, xóm làng đều iết, chỉ vì thời đi m đó gia đình chồng phản đối, cuộc sống kinh tế khó khăn không có điều kiện đi làm giấy khai sinh cho con đ ng hạn, đến khi con lớn, cần làm thủ tục nhập học, ông Nguyễn Văn Đạt mới đi làm giấy khai sinh cho các con. Năm 2004, khi nhà trường phát hiện giấy khai sinh ghi sai tên, năm sinh của mẹ nên à đã liên hệ ủy an nhân dân phường TV điều chỉnh lại giấy khai sinh. Bà xác định các con Nguyễn Thị D và Nguyễn Thị Đ là con chung của à và ông Nguyễn Văn Đạt. Bà đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu kh i kiện của các con à, chia cho các con của à một phần đất đ các cháu có đất cất nhà, ổn định cuộc sống.
Tại Bản án số 17/2023/DS-ST ngày 04/4/2023 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) UT, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Tấn B về việc yêu cầu được quyền sử dụng diện tích 1119.3m2 đất thuộc một phần thửa 423 tờ bản đồ số 12 tại phường TV, thị xã UT, tỉnh Bình Dương.
2. Đình chỉ một phần yêu cầu hởi iện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị Đ về việc yêu cầu chia di sản thừa ế đối với 01 căn nhà cấp 4 gắn liền thửa đất 423 tờ bản đồ số 12 tại phường TV, thị xã UT, tỉnh Bình Dương.
3. Chấp nhận yêu cầu hởi iện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị Đ:
Xác định di sản của ông Nguyễn Văn Dồi, bà Châu Thị Nữa để lại gồm: Quyền sử dụng diện tích 3.939,4m2 đất (trong đó có 300m2 đất ở) thuộc thửa 423 tờ bản đồ số 12 tại phường TV, thị xã UT, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH03827 ngày 21/8/2014 cấp cho hộ ông Nguyễn Văn Dồi.
Những người được hưởng di sản thừa ế của ông Nguyễn Văn Dồi, bà Châu Thị Nữa gồm: Bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị Đ (thừa ế thế vị phần ông Nguyễn Văn Đạt), ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị N và bà Nguyễn Thị G.
Chia di sản của ông Nguyễn Văn Dồi, bà Châu Thị Nữa, cụ thể như sau:
3.1 Chia cho ông Nguyễn Văn H được sử dụng 931.3 m2 đất thuộc thửa 423 tờ bản đồ số 12 tại phường TV, thị xã UT, tỉnh Bình Dương và cây trồng gắn liền trên đất ( ý hiệu A trên sơ đồ èm theo).
3.2 Chia cho bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị Đ được sử dụng 834 m2 đất (trong đó có 146m2 đất ở), cụ thể:
- Bà Nguyễn Thị D được sử dụng 417m2 (trong đó có 73m2 đất ở) thuộc thửa 423 tờ bản đồ số 12 tại phường TV, thị xã UT, tỉnh Bình Dương và cây trồng gắn liền trên đất ( ý hiệu B trên sơ đồ èm theo).
- Bà Nguyễn Thị Đ được sử dụng 417m2 (trong đó có 73m2 đất ở) thuộc thửa 423 tờ bản đồ số 12 tại phường TV, thị xã UT, tỉnh Bình Dương và cây trồng gắn liền trên đất ( ý hiệu C trên sơ đồ èm theo).
3.3 Chia cho bà Nguyễn Thị N được sử dụng 1.242.6 m2 đất (trong đó có 154m2 đất ở) thuộc thửa 423 tờ bản đồ số 12 tại phường TV, thị xã UT, tỉnh Bình Dương, căn nhà cấp 4 và cây trồng gắn liền trên đất ( ý hiệu E trên sơ đồ èm theo).
3.4 Chia cho bà Nguyễn Thị G được sử dụng 931.3 m2 đất thuộc thửa 423 tờ bản đồ số 12 tại phường TV, thị xã UT, tỉnh Bình Dương, chuồng bò, chuồng gà và cây trồng gắn liền trên đất ( ý hiệu F trên sơ đồ èm).
3. Ông Nguyễn Tấn B có trách nhiệm tháo dỡ, di dời phần nhà tạm, mái che trên phần đất được chia cho ông Nguyễn Văn H.
4. Ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị G, bà Nguyễn Thị D, bà Nguyễn Thị Đ được quyền liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để ê hai, đăng ý cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất được chia.
5. Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ số CH03827 ngày 21/8/2014 để cấp lại cho các đương sự theo quyết định của bản án.
Ngoài ra, ản án sơ th m còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ th m, ngày 24/4/2023, à Nguyễn Thị N là ị đơn, ông Nguyễn Văn H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn kháng cáo nội dung cho rằng: 02 giấy khai sinh của à Nguyễn Thị D, à Nguyễn Thị Đ được lập không đ ng pháp luật. Cơ quan điều tra đã có kết luận giám định ADN là bà D, bà N không phải là con của ông Đạt, không có quan hệ huyết thống. Tòa án cấp sơ th m chia thừa kế cho à Đ, bà D là không đ ng pháp luật; yêu cầu Tòa án cấp ph c th m hủy ản án sơ th m và chuy n hồ sơ cho cơ quan điều tra làm rõ về hành vi lập khống 02 giấy khai sinh. Tại phiên tòa, người đại diện của ị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và có ý kiến cho rằng: Tòa án cấp sơ th m xác định sai quan hệ pháp luật; đưa thiếu người tham gia tố tụng; nội dung ản án không phù hợp; đánh giá chứng cứ không đ ng pháp luật. Ông H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị xem xét lại giấy khai sinh đã cấp cho nguyên đơn.
kiến của i m sát viên đại diện Viện i m sát nhân dân tỉnh Bình Dương: Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng tại Tòa án cấp ph c th m đã th c hiện đ ng quy định của Bộ luật Tố tụng dân s . Về nội dung: Tòa án cấp sơ th m xác định nguyên đơn là con của ông Đạt và giải quyết chia thừa kế là có căn cứ. háng cáo của ị đơn và ông H là không có cơ s chấp nhận. Đề nghị ác kháng cáo.
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được th m tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến i m sát viên;
NH N Đ NH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ: cụ ông Nguyễn Văn Dồi chết ngày 23/10/2015 và cụ à Châu Thị Nữa chết ngày 26/02/1998. 02 cụ có 04 người con gồm: ông Nguyễn Văn H, à Nguyễn Thị G, à Nguyễn Thị N (là ị đơn trong vụ án), ông Nguyễn Văn Đạt chết ngày 30/4/1997 (ông Đạt chung sống với à Đoàn Thị im Hương không đăng ký kết hôn, có 02 con chung là à Nguyễn Thị D và à Nguyễn Thị Đ là nguyên đơn trong vụ án). Bà Nguyễn Thị D và à Nguyễn Thị Đ (sau đây viết là nguyên đơn) kh i kiện à Nguyễn Thị N (sau đây viết là ị đơn) yêu cầu chia thừa kế di sản của ông, à nội là cụ Dồi, cụ Nữa đ lại theo pháp luật cho cha của 02 à là ông Đạt (đã chết). Nguyên đơn là con của ông Đạt, được hư ng thừa kế thế vị kỷ phần của ông Đạt. Di sản là quyền sử dụng đất diện tích qua đo đạc th c tế 3.939,4m2 thuộc thửa 423, tờ ản đồ số 12 và căn nhà cấp 4 gắn liền đất tọa lạc tại phường TV, thành phố Tân uyên, tỉnh Bình Dương, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Dồi ngày 21/8/2014. Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn r t yêu cầu chia thừa kế đối với căn nhà cấp 4 trên đất. Nguyên đơn yêu cầu được chia thừa kế quyền sử dụng đất diện tích 984,85m2 (1/4 diện tích 3.939,4m2 của 04 kỉ phần: Bà N, ông H, bà G, ông Đạt). Bị đơn và ông H thống nhất nguồn gốc đất của cha mẹ là cụ Dồi, cụ Nữa đ lại. Cha, mẹ có 04 người con gồm: ông H, bà N, bà G, ông Đạt. Ông Đạt chung sống với à H1 không đăng ký kết hôn. Nguyên đơn không phải con của ông Đạt, giấy khai sinh cấp cho nguyên đơn là không hợp pháp. Cơ quan có th m quyền xác định không giám định được Gien. Do vậy, nguyên đơn không có quyền hư ng di sản của cụ Dồi và cụ Nữa đ lại. Bị đơn và ông H không đồng ý yêu cầu kh i kiện chia thừa kế của nguyên đơn. Bà G xác định nguồn gốc nhà, đất của cha, mẹ đ lại. Bà thống nhất với yêu cầu kh i kiện của nguyên đơn và xin được hư ng thừa kế quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
[2] Hội đồng xét xử thấy rằng: Theo tài liệu, chứng cứ thu thập được, hồ sơ quản lý đất đai, đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Thửa đất số 423, tờ ản đồ số 12 và căn nhà cấp 4 trên đất là của cụ Dồi và cụ Nữa đ lại. Cụ Dồi được UBND thị xã (nay là thành phố) UT cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 24/7/2012 số CH02065 và đổi cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 21/8/2014, số CH03827. Sau khi chuy n quyền sử dụng đất (phần đất đã chuy n quyền sử dụng đất, các đương s không tranh chấp). Diện tích đất còn lại qua đo đạc th c tế 3.939,4m2 (trong đó có 300m2 đất ) và căn nhà cấp 4 diện tích 154m2 của cụ Dồi, cụ Nữa trên đất hiện tại do ị đơn quản lý, sử dụng. Tòa án cấp sơ th m xác định diện tích đất 3.939,4m2 và căn nhà cấp 4 diện tích 154m2 trên đất tọa lạc tại phường TV, thành phố UT, tỉnh Bình Dương là di sản của cụ Dồi, cụ Nữa đ lại là có căn cứ.
[3] Về quyền thừa kế: Bị đơn và ông H cho rằng: giấy khai sinh cấp cho nguyên đơn là không hợp pháp. Nguyên đơn không phải là con của ông Đạt nên không có quyền hư ng thừa kế di sản nhà, đất của cụ Dồi, cụ Nữa. Thấy rằng: Theo hồ sơ hộ tịch và giấy khai sinh số 125 và số 126 do UBND xã TV cấp ngày 29/8/1996 cho à Nguyễn Thị D và à Nguyễn Thị Đ xác nhận cha của à D và bà Đ là ông Nguyễn Văn Đạt; do ông Đạt đứng khai sinh cho con. Ngày 10/8/2018, Phân viện hoa học hình s tại Thành phố Hồ Chí Minh có Công văn số 241/C54B trả lời Tòa án nhân dân thị xã UT: Đối với yêu cầu giám định ADN của à D, bà Đ (đều là nữ - F3) yêu cầu xác định huyết thống giữa các à với ông Đạt (F2 – đã mất) và à N là không th giám định được. Ngày 12/10/2018, UBND thị xã UT ban hành Quyết định số 5585/QĐ-UBND về việc thu hồi, hủy ỏ Giấy khai sinh số 125 cấp ngày 29/8/1996 và Giấy khai sinh số 206/2004 cấp ngày 07/7/2004 do UBND xã TV cấp cho à Nguyễn Thị D với lý do: cấp không đ ng trình t , thủ tục. Ngày 06/10/2018, UBND thị xã UT ban hành Quyết định số 5654/QĐ-UBND về việc thu hồi, hủy ỏ Giấy khai sinh số 126, cấp ngày 29/8/1996 và Giấy khai sinh số 210/2004 do UBND xã TV cấp ngày 09/7/2004 do UBND xã TV cấp cho à Nguyễn Thị Đ với lý do: cấp không đ ng trình t , thủ tục. Ngày 16/5/2019, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thị xã UT có Thông áo số 1016/TB thông áo kết quả giải quyết nguồn tin về tội phạm: không kh i tố đối với vụ xâm phạm thi th , mồ mả, hài cốt. Tại Bản án số 35/2019/HC-ST và Bản án số 36/2019/HC-ST cùng ngày 12/11/2019 (đã có hiệu l c pháp luật) của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương về việc khiếu kiện quyết định hành chính trong việc thu hồi, hủy ỏ giấy khai sinh và quyết định giải quyết khiếu nại giữa người kh i kiện à Nguyễn Thị D và à Nguyễn Thị Đ với người ị kiện UBND thị xã UT đã hủy Quyết định số 5585/QĐ-UBND ngày 12/10/2018 và hủy Quyết định số 5654/QĐ-UBND ngày 16/10/2018 của UBND thị xã UT do an hành có nội dung không đ ng pháp luật, làm ảnh hư ng đến quyền và lợi ích hợp pháp của à D và bà Đ. Tại Thông áo giải quyết đơn đề nghị giám đốc th m số 69/TB-TA ngày 23/9/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh trả lời đơn của ông H đã xác định: khi còn sống, ông Nguyễn Văn Đạt là người đi làm giấy khai sinh cho chị D, ông Đạt cũng thừa nhận chị D là con của ông Đạt, không có căn cứ kháng nghị ản án hành chính sơ th m theo thủ tục giám đốc th m. Tại 02 ản án hành chính sơ th m của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương cũng xác định: Ông Đạt chung sống với à H1 từ năm 1989 và có 02 người con chung là à D và bà Đ. Căn cứ vào hồ sơ quản lý về hộ tịch, giấy khai sinh được cấp cho à D, bà Đ và những tình tiết, s kiện đã được xác định trong 02 ản án hành chính sơ th m đã có hiệu l c pháp luật và trong thông áo giải quyết đơn đề nghị giám đốc th m của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh (đi m khoản 1 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân s ) có đủ cơ s xác định: nguyên đơn là con đẻ của ông Nguyễn Văn Đạt. Tòa án cấp sơ th m xác định: ông H, bà G, bà N, bà D và bà Đ (thừa kế thế vị của ông Đạt) được hư ng quyền thừa kế di sản của cụ Dồi, cụ Nữa là có căn cứ, phù hợp các Điều: 631, 634, 674, 675, 676, 677, 685 Bộ luật Dân s năm 2005 tương ứng với các Điều: 609, 612, 649, 650, 651, 652, 660 Bộ luật Dân s năm 2015.
[4] Về phân chia di sản của cụ Dồi, cụ Nữa là diện tích đất 3.939,4m2 và căn nhà cấp 4 trên đất thuộc thửa số 423, tờ ản đồ số 12 tọa lạc tại phường TV: Tòa án cấp sơ th m xem xét công sức nuôi dưỡng cụ Dồi, giữ gìn tôn tạo đất, trích cho bà N hư ng 10% giá trị di sản. Chia cho bà N 1.242,6m2 (trong đó có 154m2 đất ) và căn nhà cấp 4, cây trồng gắn liền đất; chia cho ông H diện tích 931,4m2 đất, cây trồng gắn liền đất; chia cho à G diện tích 931,4m2 đất, chuồng ò, chuồng gà (do à G xây cất), cây trồng gắn liền đất; chia cho à D và bà Đ diện tích 834m2 đất (trong đó có 146m2 đất ), cây trồng gắn liền đất là đã có xem xét đến quyền lợi của ị đơn, có căn cứ và đ ng pháp luật. Xét đối với cây trồng trên đất, các đương s không tranh chấp, cây trồng trên phần đất được chia thì đương s được hư ng. Đối với căn nhà tạm diện tích 80,4m2 + diện tích 15m2 và mái che diện tích 42,4m2 theo định giá tài sản có giá trị: 38.544.000 của ông Nguyễn Tấn B (con của ông H) xây cất trên phần đất diện tích 931,4m2 chia cho ông H. Tòa án cấp sơ th m uộc ông B tháo dỡ, di dời là không phù hợp pháp luật, ảnh hư ng đến việc thi hành ản án, không đảm ảo quyền lợi hợp pháp của đương s . Cần sửa ản án sơ th m giao tài sản trên cho ông H s hữu, ông H trả lại giá trị tài sản cho ông B 38.544.000 đồng là phù hợp. Nguyên đơn kh i kiện yêu cầu chia thừa kế được hư ng kỷ phần của cha là ông Đạt (không yêu cầu chia thành 02 phần). Tòa án cấp sơ th m chia kỷ phần của ông Đạt được thừa kế thành 02 phần cho bà D, bà Đ mỗi người hư ng một phần là chưa phù hợp. Cần sửa ản án sơ th m.
[5] Xét yêu cầu kháng cáo của ị đơn và ông H là không có cơ s chấp nhận, ý kiến của i m sát viên là phù hợp. Án phí sơ th m: Miễn án phí cho ông H, bà G là người cao tuổi, có đơn theo quy định; nguyên đơn, ị đơn phải chịu án phí sơ th m theo quy định. Xét giảm một phần án phí cho nguyên đơn do có hoàn cảnh khó khăn được Ủy an nhân dân phường TH xác nhận. Án phí phúc th m: Ông H, bà N không phải chịu do sửa ản án sơ th m. Chi phí xem xét, th m định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản: Nguyên đơn t nguyện nộp và đã thanh toán xong.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT Đ NH:
- Căn cứ các Điều: 631, 634, 674, 675, 676, 677, 685 Bộ luật Dân s năm 2005;
- Căn cứ các Điều: 609, 612, 649, 650, 651, 652, 660 Bộ luật Dân s năm 2015;
- Căn cứ các Điều: 147; 148; 165; khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân s .
- Căn cứ các Điều : 12, 14, 15, 26, 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy an Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Th m phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm,
Tuyên xử:
hông chấp nhận yêu cầu kháng cáo của à Nguyễn Thị N và ông Nguyễn Văn H. Sửa một phần Bản án số 17/2023/DS-ST ngày 04/4/2023 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) UT như sau:
1. Chấp nhận yêu cầu kh i kiện của à Nguyễn Thị D và à Nguyễn Thị Đ đối với à Nguyễn Thị N về việc tranh chấp thừa kế tài sản. Di sản của cụ ông Nguyễn Văn Dồi và cụ à Châu Thị Nữa đ lại gồm: diện tích đất 3.939,4m2 (trong đó có 300m2 đất ), căn nhà cấp 4 thuộc thửa số 423, tờ ản đồ số 12 tọa lạc tại phường TV, thành phố UT, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền s hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN: CH03287 do UBND thị xã UT cấp ngày 21/8/2014 cho hộ ông Nguyễn Văn Dồi. Chia thừa kế di sản của cụ Dồi, cụ Nữa đ lại như sau:
- Chia cho à Nguyễn Thị D và à Nguyễn Thị Đ (được hư ng phần di sản của cha là ông Nguyễn Văn Đạt) được quyền sử dụng diện tích đất 834m2 (trong đó có 146m2 đất ) và cây trồng gắn liền đất thuộc thửa 423, tờ ản đồ 12 tọa lạc tại phường TV, thành phố UT, tỉnh Bình Dương (ký hiệu B và C trên sơ đồ kèm theo ản án).
- Chia cho à Nguyễn Thị N được quyền sử dụng diện tích đất 1.242,6m2 (trong đó có 154m2 đất ) và s hữu căn nhà cấp 4, cây trồng gắn liền đất thuộc thửa 423, tờ ản đồ 12 tọa lạc tại phường TV, thành phố UT, tỉnh Bình Dương (ký hiệu E trên sơ đồ kèm theo ản án).
- Chia cho ông Nguyễn Văn H được quyền sử dụng diện tích đất 931,4m2 (CLN) và s hữu nhà tạm, mái che và cây trồng gắn liền đất thuộc thửa 423, tờ ản đồ 12 tọa lạc tại phường TV, thành phố UT, tỉnh Bình Dương (ký hiệu A trên sơ đồ kèm theo ản án). Ông H có nghĩa vụ thanh toán lại giá trị nhà tạm, mái che cho ông Nguyễn Tấn B là 38.544.000 đồng.
- Chia cho à Nguyễn Thị G được quyền sử dụng diện tích đất 931,4m2 (CLN) và s hữu chuồng gà, chuồng ò và cây trồng gắn liền đất thuộc thửa 423, tờ ản đồ 12 tọa lạc tại phường TV, thành phố UT, tỉnh Bình Dương (ký hiệu F trên sơ đồ kèm theo ản án).
Các đương s có trách nhiệm đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. iến nghị UBND thành phố UT thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền s hữu nhà và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN: CH03287 do UBND thị xã UT cấp ngày 21/8/2014 cho hộ ông Nguyễn Văn Dồi.
2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu kh i kiện của à Nguyễn Thị D và bà Nguyễn Thị Đ về việc yêu cầu chia thừa kế căn nhà cấp 4 trên thửa đất số 423, tờ ản đồ số 12 tại phường TV, thành phố UT, tỉnh Bình Dương.
3. hông chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Tấn B về việc yêu cầu được quyền sử dụng diện tích đất 1.119,3m2 thuộc một phần thửa số 423, tờ ản đồ số 12 tọa lạc tại phường TV, thành phố UT, tỉnh Bình Dương.
4. Về án phí, chi phí xem xét, th m định tại chỗ, đo đạc, định giá tài sản:
- Án phí sơ th m: Miễn án phí cho ông Nguyễn Văn H và à Nguyễn Thị G. Bà Nguyễn Thị D và à Nguyễn Thị Đ phải chịu 65.000.000 đồng, được trừ vào 5.000.000 đồng tạm ứng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0037699, ngày 02/3/2020 của Chi cục Thi hành án dân s thị xã (nay là thành phố) UT. Bà D và bà Đ còn phải nộp 60.000.000 đồng. Bà Nguyễn Thị N phải nộp 114.000.000 đồng. Ông Nguyễn Tấn B phải chịu 300.000 đồng được trừ vào 21.000.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005803 ngày 09/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân s thị xã (nay là thành phố) UT. Chi cục Thi hành án dân s thành phố UT trả lại cho ông Bửu 20.700.000 đồng.
- Án phí ph c th m: Các đương s không phải chịu. Chi cục Thi hành án dân s thành phố UT trả lại cho à Nguyễn Thị N 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007636 ngày 09/5/2023 và trả lại cho ông Nguyễn Văn H 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007635 ngày 09/5/2023.
- Chi phí xem xét, th m định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản là 2.300.000 đồng. Bà Nguyễn Thị D và à Nguyễn Thị Đ đã nộp và thanh toán xong.
từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, ên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân s năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp ản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân s thì người được thi hành án dân s , người phải thi hành án dân s có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, t nguyện thi hành án hoặc ị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân s ; thời hiệu thi hành án được th c hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân s .
Bản án ph c th m có hiệu l c pháp luật k từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Các đương s ; - V SND tỉnh Bình Dương; - TAND thành phố UT; - Chi cục THADS thành phố UT; - Lưu: HSVA, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Trung |