- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của ông Bùi Q.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 426/2022/HNGĐ-ST Ngày: 24/10/2022. “V/v tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B-TỈNH Đ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị B.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn T
2. Ông Đinh Công H
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu T - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn T - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1667/2021/TLST-HNGĐ ngày 29/10/2021 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 378/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/9/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 472/2022/QĐST-DS ngày 04 tháng 10 năm 2022 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Bùi Q, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Tổ dân phố S, phường B, thành phố C, tỉnh K.
Địa chỉ liên hệ: Ấp 1, tổ 7, xã V, huyện V, tỉnh Đ.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1983.
Địa chỉ: Tổ 22C, khu phố 2, phường T, thành phố B, tỉnh Đ.
(Ông Q có đơn xin xét xử vắng mặt, bà H vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai của nguyên đơn ông Bùi Q trình bày:
Ông Bùi Q và bà Nguyễn Thị H đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện V, tỉnh Đ, trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu, sau này do ông Q đi làm ăn xa thì tình cảm vợ chồng không như thời gian đầu, nhiều lần ông đã hòa giải nhưng không được. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2012 đến nay. Xét thấy mục đích hôn nhân không đạt được, tình cảm vợ chồng không hàn gắn được, nên ông xin ly hôn với bà H.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-Nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*Bị đơn bà Nguyễn Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án làm việc, không có lời khai.
*Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án là đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Xét yêu cầu khởi kiện của ông Q xin ly hôn với bà H nhận thấy:
Hồ sơ vụ án thể hiện ông Q và bà H có đăng ký kết hôn vào năm 2012, hôn nhân tự nguyện nên căn cứ Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được xác định là hôn nhân hợp pháp.
Theo ông Q trình bày vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau này do ông Q đi làm ăn xa thì tình cảm vợ chồng không như thời gian đầu, nhiều lần ông đã hòa giải nhưng không được. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2012 đến nay.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà H đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, hòa giải, cũng như tại phiên tòa hôm nay bà H vẫn vắng mặt, như vậy, bà H đã tự bỏ mặc tình trạng hôn nhân của mình, không còn tha thiết với việc hàn gắn đoàn tụ, chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông Q bà H, đã lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận đơn xin của ông Q.
- Về con chung: Vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
-Về tài sản chung: ông Q khai không có nhưng bà H không có ý kiến về việc này nên tách ra giải quyết khi các đương sự có yêu cầu.
-Nợ chung: ông Q khai không có nhưng bà H không có ý kiến về việc này nên tách ra giải quyết khi các đương sự có yêu cầu.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch: Ông Q phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng ông Q đã nộp biên lai số 0000077 ngày 25/10/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Ông Bùi Q xin ly hôn với bà Nguyễn Thị H, Bà H có nơi cư trú tại: tổ 22 C, khu phố 2, phường T, thành phố B, tỉnh Đ. Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân thành phố B có thẩm quyền giải quyết.
Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn bà Nguyễn Thị H, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ xét xử đến lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không lý do.
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: ông Q và bà H đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2012, tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Đ theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên xác định là hôn nhân hợp pháp.
Theo ông Q trình bày vợ chồng sống hạnh phúc được thời gian đầu, sau này do ông Q đi làm ăn xa thì tình cảm vợ chồng không như thời gian đầu, nhiều lần ông đã hòa giải nhưng không được. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2012 đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không hàn gắn được, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Q làm đơn xin ly hôn với bà H. Tòa án đã tiến hành xác minh tình trạng mâu thuẫn vợ chồng nhưng địa phương không nắm, do đương sự không báo; về con chung: không có; về tài sản chung, nợ chung; hiện địa phương không nắm và cũng không nhận được đơn khởi kiện hay trình báo gì từ các đương sự.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bà H đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc, hòa giải, cũng như tại phiên tòa hôm nay bà H vẫn vắng mặt, như vậy, bà H đã tự bỏ mặc tình trạng hôn nhân của mình, không còn tha thiết với việc hàn gắn đoàn tụ, chứng tỏ tình trạng hôn nhân của ông Q bà H, đã lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chấp nhận đơn xin của ông Q. Cho ông Q được ly hôn bà H.
- Về quan hệ con chung: Vợ chồng không có con chung, không yêu cầu Toa án giải quyết
-Về tài sản chung: ông Q khai không có nhưng bà H không có ý kiến về việc này nên tách ra giải quyết khi các đương sự có yêu cầu.
-Nợ chung: ông Q khai không có nhưng bà Hải không có ý kiến về việc này nên tách ra giải quyết khi các đương sự có yêu cầu.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 6; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết, ông Q phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn.
Quan điểm của Viện kiểm sát phù hợp nhận định nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 228; Điều 266, 271, 273; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng Điều 9, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Điều 6; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Tuyên xử:
Chấp nhận đơn yêu cầu ly hôn của ông Bùi Q.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Bùi Q được ly hôn với bà Nguyễn Thị H.
2. Về con chung: Vợ chồng không có con chung, nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
3. Về tài sản chung: Tách ra để giải quyết bằng vụ án khác khi các bên đương sự có yêu cầu.
4. Nợ chung: Tách ra để giải quyết bằng vụ án khác khi các bên đương sự có yêu cầu.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch: Ông Q phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp biên lai số 0000077 ngày 25/10/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B. Ông Q đã nộp xong.
Ông Bùi Q và bà Nguyễn Thị H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - Lưu hồ sơ vụ án.(1) - Lưu văn phòng.(2) - Các đương sự.(2) - VKSND TP B.(2) - THA dân sự TP B.(1) - TAND tỉnh Đ. (1) - UBND nơi ĐKKH (1) | Phạm Thị Bảy |