- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN Quy định về hoạt động cho vay củ…; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂNDÂN KHU VỰC 9 THÀNHPHỐHỒCHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 424/2025/DS- ST Ngày: 25/8/2025 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngọc Em Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Lương Kim Nghĩa 2. Bà Trần Thị Hiền
- Thư ký phiên tòa: ông Lê Thành Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên. Trong ngày 25 tháng 8 năm 2025 tại trụ sở chính Tòa án nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1194/2024/TLST-DS ngày 11 tháng 10 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2025/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 7 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2025/QĐST-DS ngày 30 tháng 7 năm 2025 giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Ngân Hàng TMCP S; địa chỉ: Số 266-268 N, phường V, Quận B, Thành phố H (nay là phường X, Thành phố H); Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: bà Võ Thị Quỳnh D; chuyên viên Thu hồi nợ; địa chỉ: Số 266-268 N, phường V, Quận B, Thành phố H (nay là phường X, Thành phố H); (Giấy ủy quyền số 3123/2025/UQ-TT.XLN ngày 04/7/2025); có đơn đề nghị xét xử mặt. 2. Bị đơn: ông Huỳnh Tấn N, sinh năm 1987; địa chỉ thường trú: Tổ 2 khu phố Đ, thị trấn P, tỉnh P (nay là xã P, tỉnh Đ); địa chỉ nơi cư trú: Căn hộ 1.13 Tầng 2, Chung cư B, đường số 17A, phường B, quận T, Thành phố H (nay là phường A, Thành phố H); vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, các bản tự khai, các biên bản về việc không tiến hành hòa giải được cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, những người đại diện hợp pháp của nguyên đơn - Ông Phạm Trường T trình bày: Ngày 10/5/2023, ông Huỳnh Tấn N có ký với Ngân Hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng TMCP S) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông N, Ngân hàng TMCP S đã đồng ý cấp thẻ tín dụng VS payWave Cre Classic 472074-6903 với hạn mức sử dụng là 200.000.000 đồng; lãi suất trong hạn: 2.77%/tháng; lãi suất quá hạn: 4.155%/tháng (2.77% x 150%). Ngày 25/5/2023, ông N thực hiện đăng ký vay tiêu dùng trên ứng dụng Ngân hàng TMCP S Pay (viết tắt là Ngân hàng TMCP S Pay) với số tiền giải ngân là 165.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân; lãi suất trong hạn: 1.4%/tháng; lãi suất quá hạn: 4.131%/tháng (2.754%x150%). Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 35.000.000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ đến nay ông N đã thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền 7.007.883 đồng. (Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 21 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S). Ông N vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S), ngày 11/3/2024, Ngân hàng TMCP S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông N chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu (dư nợ gốc) sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S). Quá trình thực hiện hợp đồng vay tiêu dùng đối với khoản vay đã được giải ngân số tiền 165.000.000 đồng, ông N đã đã thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền 20.543.600 đồng. Do ông N vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 3 của Bản Điều khoản và Điều kiện vay tiêu dùng trên ứng dụng Ngân hàng TMCP S Pay), ngày 26/02/2024, Ngân hàng TMCP S đã chấm dứt và chuyển toàn bộ dư nợ gốc sang nợ quá hạn (Điều 5 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành vay tiêu dùng trên ứng dụng Ngân hàng TMCP S Pay). Tạm tính đến ngày 25/8/2025, ông N còn nợ các khoản sau:
- Đối với việc sử dụng thẻ tín dụng tổng số tiền nợ là 67.448.402 đồng; trong đó: nợ gốc là 39.013.440 đồng; nợ lãi quá hạn là 28.434.962 đồng.
- Đối với khoản vay tiêu dùng, tổng số tiền nợ là 291.309.706 đồng gồm: nợ gốc là 166.157.200 đồng; nợ lãi quá hạn là 125.152.506 đồng. Ngân hàng TMCP S yêu cầu ông Huỳnh Tấn N phải trả ngay các khoản nợ nêu trên. Đồng thời, tiếp tục trả phát sinh từ ngày 26/8/2025 cho đến khi trả xong các khoản nợ theo mức lãi suất được thỏa thuận tại các hợp đồng tín dụng đã ký kết. Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông Huỳnh Tấn N đến Tòa án để giải quyết vụ án nhưng ông N không đến; không gửi ý kiến phản hồi đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, do đó không ghi nhận được ý kiến của ông N. Tại phiên tòa: Bị đơn vắng mặt. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa có ý kiến như sau:
- Về Thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng trình tự tố tụng quy định của pháp luật; chưa đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án: Ngân Hàng TMCP S khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với ông Huỳnh Tấn N. Theo kết quả cung cấp thông tin của Công an thị trấn Phú Hòa, huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên thì bị đơn đăng ký hộ khẩu thường trú tại Tổ 2, Khu phố Đ, thị trấn P, huyện H, tỉnh P nhưng không thực tế cư trú tại địa phương; theo kết quả cung cấp thông tin của Công an phường B, quận T, Thành phố H thì ông N không thực tế cư trú tại địa phương. Tuy nhiên, đây là địa chỉ ghi trong hợp đồng giữa Ngân hàng TMCP S và ông N. Hội đồng xét xử không xác định được địa chỉ nơi ông N đang thực tế cư trú. Đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, trốn tránh nghĩa vụ đối với người khởi kiện được quy định tại điểm e khoản 1 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử xác định địa chỉ số Căn hộ 1.13 Tầng 2, Chung cư B, đường số 17A, phường B, quận T, Thành phố H (nay là phường A, Thành phố H) là địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của bị đơn. Theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 9, Thành phố Hồ Chí Minh. [2]. Về thủ tục xét xử vắng mặt: Bị đơn trong vụ án là ông Huỳnh Tấn N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Ngày 04/7/2025, người đại diện hợp pháp của Ngân hàng TMCP S có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [3]. Xét yêu cầu của nguyên đơn: Căn cứ vào Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng; Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân Hàng TMCP S; theo đó, Ngân hàng TMCP S đã cấp hạn mức sử dụng của thẻ tín dụng cho ông N là 200.000.000 đồng; lãi suất trong hạn: 2.77%/tháng; lãi suất quá hạn: 4.155%/tháng (2.77% x 150%). Căn cứ vào việc ông N đăng ký vay tiêu dùng trên ứng dụng Ngân hàng TMCP S Pay ngày 25/5/2023, Ngân hàng TMCP S đã đồng ý cho vay và giải ngân số tiền là 165.000.000 đồng; lãi suất trong hạn: 1.4%/tháng; lãi suất quá hạn: 4.131%/tháng (2.754%x150%). Các giao dịch trên là các giao kết dân sự trên cơ sở tự nguyện và được pháp luật thừa nhận nên phát sinh hiệu lực giữa các bên. Trong quá trình thực hiện Hợp đồng, ông N đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 35.000.000 đồng; ông N đã thanh toán số tiền 7.007.883 đồng. Do ông N vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 29/3/2024 Ngân hàng TMCP S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông N và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Đối với khoản vay tiêu dùng, Ngân hàng TMCP S đã giải ngân số tiền 165.000.000 đồng, ông N đã đã thanh toán số tiền 20.543.600 đồng. Do ông N vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 26/02/2024, Ngân hàng TMCP S đã chuyển toàn bộ dư nợ gốc sang nợ quá hạn. Tạm tính đến ngày 25/8/2025, ông N còn nợ các khoản sau:
- Đối với việc sử dụng thẻ tín dụng tổng số tiền nợ gốc và lãi là 67.448.402 đồng; trong đó: nợ gốc là 39.013.440 đồng; nợ lãi quá hạn là 28.434.962 đồng.
- Đối với khoản vay tiêu dùng, tổng số tiền nợ nợ gốc và lãi là 291.309.706 đồng gồm: nợ gốc là 166.157.200 đồng; nợ lãi quá hạn là 125.152.506 đồng. Ngân hàng TMCP S yêu cầu ông Huỳnh Tấn N phải trả ngay các khoản nợ nêu trên. Đồng thời, tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn phát sinh từ ngày 26/8/2025 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng; Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S; Bản Điều khoản và điều kiện phát hành vay tiêu dùng trên ứng dụng Ngân hàng TMCP S Pay. Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về giao nộp tài liệu, chứng cứ: Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án; nếu đương sự không giao nộp hoặc giao nộp không đầy đủ tài liệu, chứng cứ… thì Tòa án căn cứ vào tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án thu thập được… để giải quyết vụ án. Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho bị đơn đầy đủ các văn bản tố tụng, trong đó các thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên hòa giải, thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ đã ghi rõ nội dung yêu cầu của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ nguyên đơn cung cấp chứng minh cho yêu cầu của nguyên đơn, nhưng phía bị đơn không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không có ý kiến phản hồi về yêu cầu của nguyên đơn, không cung cấp chứng cứ chứng minh đã trả số tiền vốn và lãi nêu trên cho nguyên đơn. Như vậy bị đơn đã tự tước bỏ quyền chứng minh và cung cấp chứng cứ của mình. Từ những nhận định trên, căn cứ vào Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước về phạt vi phạm; căn cứ vào Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn có nghĩa vụ trả số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 25/8/2025, gồm các khoản nợ với tổng số tiền là 358.758.108 đồng, bao gồm: Khoản nợ từ việc sử dụng thẻ tín dụng tổng số tiền nợ gốc và lãi là 67.448.402 đồng; trong đó: nợ gốc là 39.013.440 đồng; nợ lãi quá hạn là 28.434.962 đồng. Khoản nợ đối với khoản vay tiêu dùng nợ gốc và lãi là 291.309.706 đồng gồm: nợ gốc là 166.157.200 đồng; nợ lãi quá hạn là 125.152.506 đồng. Đồng thời, bị đơn còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng, tính từ ngày 26/8/2025 cho đến khi trả xong nợ. Về quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Hội đồng xét xử thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên đã trình bày tại phiên tòa về hướng giải quyết vụ án. [4]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Huỳnh Tấn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 17.937.905 đồng. Trả lại cho Ngân Hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.119.672 đồng. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khản 1, 3 Điều 228, Điều 244, Điều 271, Điều 273, Điều 278, Điều 280 của Bộ luật tố Tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 290, Điều 471, Điều 474 của Bộ luật dân sự năm 2005; Căn cứ vào Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Căn cứ Luật Thi hành án dân sự, 1. Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP S về việc yêu cầu ông Huỳnh Tấn N thanh toán nợ. 2. Buộc ông Huỳnh Tấn N có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng TMCP S các khoản nợ gốc và nợ lãi nợ tạm tính đến 25/8/2025, với tổng số tiền là 358.758.108 đồng, bao gồm: Khoản nợ từ việc sử dụng thẻ tín dụng tổng số tiền nợ gốc và lãi là 67.448.402 đồng; trong đó: nợ gốc là 39.013.440 đồng; nợ lãi quá hạn là 28.434.962 đồng. Khoản nợ đối với khoản vay tiêu dùng nợ gốc và lãi là 291.309.706 đồng gồm: nợ gốc là 166.157.200 đồng; nợ lãi quá hạn là 125.152.506 đồng Kể từ ngày 26/8/2025, ông Huỳnh Tấn N còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng; Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân Hàng TMCP S; Bản Điều khoản và điều kiện phát hành vay tiêu dùng trên ứng dụng Ngân hàng TMCP S Pay, cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ. 3. Về án phí dân sự sơ thẩm: 3.1. Ông Huỳnh Tấn N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 17.937.905đ (mười bảy triệu chín trăm ba mươi bảy nghìn chín trăm lẻ năm đồng). 3.2. Trả lại cho Ngân Hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.119.672đ (một triệu một trăm mười chín nghìn sau trăm bảy mươi hai đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010779 ngày 08/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 9). 4. Các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự được thực hiện tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền. 5. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S, ông Huỳnh Tấn N vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6 Luật Thi hành án dân sự, tại các Điều 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND KV9-TP.HCM; - TAND TP.HCM; - THADS TP.HCM; - Lưu VP, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Ngọc Em |