- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huân - Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 201…"
- Tòa quyết gì? Về căn cứ áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:424/2022/HSST Ngày 28-10 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Sinh Tụ
2. Bà Nguyễn Thị Kim Thu
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Huyền, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểmsát nhân dân thành phố Thái Nguyên,tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà:Bà Hoàng Thị Diệu Ngọc - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2022,tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành p hố Thái Nguyên,tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 409/2022/TLST-HS,ngày 07 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 400/2022/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 10 năm2022, đối với:
- Bị cáo: Lê Văn H, tên gọi khác: Không; Sinh ngày 23/9/1970
Nơicưtrú:Tổ 21, phường P,thành phố TN, tỉnh TN.
Chỗ ở:XómC,xã HT,huyện ĐH,tỉnh TN
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; con ông: Lê Văn Ch và bà Dương Thị Th (đều đã chết); Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ sáu; Vợ là Phương Thị T, sinh năm 1970 (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 1994.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạmgiữ, tạmgiamtừ ngày 27/6/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tạiTrại tạmgiamcông an tỉnh Thái Nguyên (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người chứng kiến: Anh Tạ Như Đ, sinh năm 1973(vắng mặt)
Địa chỉ:XómĐT,xã ĐL,thành phố TN, tỉnh TN
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 45 phút ngày 27/6/2022, tổ công tác của Công an xã Đồng Liên, thành phố Thái Nguyên làm nhiệm vụ tại khu vực xóm Toàn Thắng 1, xã Đồng Liên, thành phố Thái Nguyên thì phát hiện một người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, người đàn ông trên khai tên là Lê Văn H. Qua kiểm tra, H tự nguyện giao nộp cho tổ công tác 02 gói giấy bạc màu trắng H đang cầm trong lòng bàn tay trái, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng, H khai đó là ma túy Heroin của H mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Văn H và niêm phong, thu giữ vật chứng theo quy định
Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an thành p hố Thái Nguyên tiến hành cân xác định khối lượng số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Lê Văn H có khối lượng là 0,153 gam rồi lấy mẫu vật giám định ký hiệu A1.
Tại bản kết luận giám định số 986/KL - KTHS ngày 05/7/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận : Chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroin, khối lượng thu giữ ban đầu là 0,153 gam.
Tại Cơ quan điều tra, Lê Văn H khai nhận: Khoảng 11 giờ 30 p hút ngày 27/6/2022, H đi bộ từ nhà ở tổ 21, phường P, thành phố TN đến khu vực đê Gang thép thuộc xóm Toàn Thắng 1, xã Đồng Liên, thành phố Thái Nguyên mục đích để mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây H gặp và mua 02 gói ma túy heroin của một người đàn ông không rõ lai lịch, địa chỉ với giá 400.000 đồng. Sau đó H cầm 02 gói ma túy vừa mua được trong lòng bàn tay trái, rồi đi tìm nơi sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an xã Đồng Liên, thành phố Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Vật chứng của vụ án là : 01 bì niêm phong ký hiệu A1 hoàn trả 0,143 gam mẫu A1 hoàn lại sau giám định và vỏ bao mẫu A1; 01 bì niêm p hong ký hiệu A2. Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý .
Do có hành vi nêu trên, nên tại bản cáo trạng số 414/CT-VKSTPTN,ngày 07/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạmtội của mình, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Phần luận tội tại phiên tòa,sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng số 414/CT-VKSNDTP ngày 07/10/2022 đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạmtội “Tàng trữ trái p hép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn H mức án từ 15 đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 bì niêm phong A1,A2
Ngoài ra còn đề nghị về phần án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận,Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXXxét xem cho được hưởng mức án thấp nhất để sớmtrởvề với gia đình, xã hội và thành người có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa,Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyếtđịnh tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên,Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên,Kiểmsát viên trong điều tra,truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên,Điều tra viên,Viện kiểmsát nhân dân thành phố TháiNguyên, Kiểmsát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự.Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi,quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng,người tiến hành tố tụng.Do đó, các hành vi,quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng,ngườitiến hành tố tụng đ ã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Văn H tại phiên toà hôm nay là khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận:
Vào hồi 11 giờ 45 phút, ngày 27/6/2022 tại khu vực xóm Toàn Thắng, xã Đồng Liên, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, Lê Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,153 gam heroin nhằmmục đích sử dụng cho bản thân.Nguồn gốc số ma túy trên theo H khai là mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực đê Gang Thép thuộc xóm Toàn Thắng 1, xã Đồng Liên, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên với số tiền là 400.000 đồng.
Hành vi tàng trữ trái phép 0,153 gam ma túy, loại Heroin, nhằmmục đích sử dụng cho bản thân của Lê Văn H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Điều 249 Bộ luật hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:.
...
c) Heroin …..có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người, làm phát sinh các loại tội p hạm khác và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật. Bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, tuổi đời cũng không còn trẻ nhưng không chịu rèn luyện, tu dưỡng bản thân để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội mà đi vào con đường nghiện ngập và p hạm tội.
Quá trình điều tra cũng nhưtại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS là: “Người phạmtội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bố bị cáo là ông Lê Văn Châmđược nhà nước tặng thưởng H chương kháng chiến chống Mỹ hạng Ba nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào quy định tại Điều 52 BLHS. Nên khi xem xét lượng hình HĐXXxem xét giảm nhẹ một phần hình p hạt cho bị cáo để bị cáo cải tạo tốt sớmtrở về với gia đình và xã hội trở thành công dân có ích.
Mức án mà đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có phần nghiêm khắc.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS, thì:
“5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tuy nhiên xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp , thu nhập ổn định, không có tài sản gì nên HĐXX không áp dụng hình p hạt bổ sung cho bị cáo.
[6]. Việc xử lý đối tượng liên quan đến vụ án:
Nguồn gốc số ma túy loại Heroin, Lê Văn H khai mua của một người đàn ông không quen biết (không rõ họ, tên, địa chỉ) ở khu vực đê Gang Thép thuộc xóm Toàn Thắng 1, xã Đồng Liên, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra không đủ căn cứ để xác định người đàn ông trên, nên cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.
. Vật chứng vụ án:
Số ma túy thu giữ của bị cáo và các vỏ bao thu giữ ban đầu, hoà n lại sau giám định được niêm phong trong các phong bì ký hiệu A1,A2 là vật cấm lưu thông, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về căn cứ áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
2. Về tội danh và hình phạt:
2.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn H 12(Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/6/2022.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo công tác thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 bì niêm phong ký hiệu A1 (hoàn trả 0,143 gam mẫu A1 và vỏ bao gói còn lại sau giám định) mặt sau phong bì có 03 dấu tròn đỏ của p hòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên cùng chữ ký của Trương Đăng T, Mai Tố Y.
- 01 bì niêm phong ký hiệu A2 mặt sau phong bì có 03 dấu tròn đỏ của cơ quan CSĐTCông an thành phố Thái Nguyên cùng chữ ký của Nguyễn Hữu H, Lê Văn H, Nguyễn Minh Th,Tạ Như Đ.
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng số 58 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, ngày 26/10/2022).
4. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp,quản lý và sử dụng án phí và lệ p hí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND thành phố Thái Nguyên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên - Công an thành phố Thái Nguyên; - Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên; - Bị cáo; Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Duyên |