vanban.org

Bản án 423/2024/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn,

giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Y. Buộc vợ chồng ông Phạm Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Bà Y yêu cầu vợ chồng ông T bà T1 trả tiền vay"
  • Tòa quyết gì? tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn,
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 423/2024/DS-ST

Ngày: 12/11/2024

THỊ XÃ HOÀI NHƠN Độc lập - Tự do - Hạnh phúc V/v tranh chấp về hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hồng Hoàng Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Phan Á 2. Ông Cao Thanh Tâm - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Tuyết Mai – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quang – Kiểm sát viên. Ngày 12 tháng 11 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 248/2024/TLST-DS ngày 23 tháng 7 năm 2024 về việc Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 303/2024/QĐXXST-DS ngày 14 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự: 1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1992, địa chỉ: Xóm A, thôn A, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định. (Có mặt). 2. Bị đơn: Vợ chồng ông Phạm Văn T, sinh năm 1972 bà Trần Thị T1, sinh năm 1976, địa chỉ: Thôn A, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Y trình bày: Ngày 26/02/2020, bà Y cho vợ chồng ông T bà T1 vay số tiền 50.000.000 đồng, có viết giấy nợ do ông T bà T1 ký tên. Việc cho vay không thỏa thuận thời gian trả, có thỏa thuận bằng lời nói tính lãi với lãi suất 1.500.000 đồng/50.000.000 đồng/tháng. Ông T bà T1 chưa trả tiền gốc, tiền lãi. Ông T cho rằng đã trả 02 tháng tiền lãi là không đúng. Nay bà Y yêu cầu vợ chồng ông T bà T1 phải trả số tiền gốc 50.000.000 đồng và tiền lãi từ ngày vay đến nay theo lãi suất pháp luật qui định.

- Tại Bản tự khai, Biên bản lấy lời khai của đương sự, bị đơn ông Phạm Văn T trình bày: Ngày 26/02/2020, vợ chồng ông vay của bà Y số tiền 50.000.000 đồng để đầu tư làm chiếu, có giấy tờ như bà Y cung cấp. Ông T ghi giấy mượn, vợ chồng cùng ký là đúng. Có thỏa thuận lãi suất 1.500.000 đồng/tháng/50.000.000 đồng. Vợ chồng ông đã trả lãi được 02 tháng, sau đó không có khả năng trả nữa. Vợ chồng ông còn nợ bà Y 50.000.000 đồng là đúng, vợ chồng ông chấp nhận trả. - Bị đơn bà Trần Thị T1 không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn, không đến Tòa án để làm việc theo giấy triệu tập, thông báo và giấy báo. - Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo qui định. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Y, buộc ông T và bà T1 phải trả cho bà Y 50.000.000 đồng và tiền lãi theo quy định của pháp luật. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông T và bà T1 phải nộp theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Y yêu cầu ông T bà T1 trả tiền gốc đã vay và tiền lãi nên theo khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự, quan hệ pháp luật được xác định là Tranh chấp về hợp đồng vay tài sản. Bị đơn cư trú tại xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định nên theo điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định có thẩm quyền giải quyết vụ án. [2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án. [3] Trong thời gian giải quyết vụ án, bà T1 không nộp văn bản ghi ý kiến của mình, không đến làm việc theo giấy triệu tập, thông báo, giấy báo của Tòa án. Do đó, Tòa án không lấy ý kiến của bà T1 liên quan đến yêu cầu của bà Y được. Bà T1 không có ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo qui định của pháp luật nên phải chịu trách nhiệm cho việc không thực hiện quyền và nghĩa vụ. Tòa án sẽ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án. [4] Căn cứ giấy ghi nợ ngày 26/02/2020 do bà Y cung cấp được ông T thừa nhận và lời khai của ông T, xác định vợ chồng ông T bà T1 có vay của bà Y số tiền 50.000.000 đồng, không có thời hạn trả, lãi suất 1.500.000 đồng/50.000.000 đồng/tháng (tức 36%/năm) là đúng. Đây là hợp đồng vay tài sản không có kỳ hạn và có lãi. Ông T bà T1 không trả nợ khi bà Y đòi là vi phạm nghĩa vụ đối với bên cho vay. Vì vậy, bà Y khởi kiện yêu cầu vợ chồng

ông T bà T1 trả tiền gốc là có căn cứ, đúng qui định của pháp luật nên yêu cầu này được chấp nhận. [5] Về yêu cầu trả tiền lãi: Lãi suất hai bên thỏa thuận 36%/năm là vượt quá qui định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự: “1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận. Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác”. Do đó, mức lãi suất vượt quá qui định không có hiệu lực pháp luật. Ông T cho rằng đã trả 02 tháng tiền lãi nhưng không được bà Y chấp nhận và ông T cũng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nên không có cơ sở xác định đây là sự thật để xem xét giải quyết. Hợp đồng vay có lãi nên vợ chồng ông T bà T1 phải trả lãi cho bà Y. Bà Y yêu cầu trả lãi từ ngày vay đến nay theo lãi suất qui định là phù hợp nên được chấp nhận, buộc ông T bà T1 phải trả tiền lãi như sau: Tiền lãi trên nợ gốc chưa trả = 50.000.000 đồng x 20%/năm x 04 năm 08 tháng 17 ngày (thời gian vay chưa trả lãi trên nợ gốc từ ngày 26/02/2020 đến ngày xét xử 12/11/2024) là 47.138.800 đồng (đã làm tròn số). [6] Vợ chồng ông T bà T1 vay tiền để đầu tư làm kinh tế gia đình nên phải có nghĩa vụ chung đối với số tiền vay và phải liên đới trả cho bà Y tiền gốc 50.000.000 đồng và tiền lãi 47.138.800 đồng. Vợ chồng ông T bà T1 chậm thực hiện nghĩa vụ trong hợp đồng mà các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nên kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, vợ chồng ông T bà T1 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận. Tại hợp đồng vay, tại Tòa án các bên không có thỏa thuận mức lãi suất nợ quá hạn nên mức lãi suất nợ quá hạn được xác định bằng 30%/năm (150% mức lãi suất trong hạn 20%/năm). [7] Về án phí: Yêu cầu của bà Y được chấp nhận nên vợ chồng ông T bà T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 97.138.800 đồng x 5% = 4.856.900 đồng (đã làm tròn số). [8] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào các điều 288, 463, 466, 468, 469 của Bộ luật Dân sự; Căn cứ vào các điều 27, 37 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Y. Buộc vợ chồng ông Phạm Văn T bà Trần Thị T1 phải liên đới trả cho bà Nguyễn Thị Y số tiền 97.138.800 đồng (Chín mươi bảy triệu một trăm ba mươi tám nghìn tám trăm đồng). 2. Về án phí và tiền tạm ứng án phí: - Vợ chồng ông Phạm Văn T bà Trần Thị T1 phải chịu 4.856.900 đồng (Bốn triệu tám trăm năm mươi sáu nghìn chín trăm đồng) án phí dân sơ thẩm. - Trả lại cho bà Nguyễn Thị Y số tiền 1.250.000 đồng (Một triệu hai trăm năm mươi nghìn đồng), bà đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006582 ngày 23 tháng 7 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định. 3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. 4. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: 4.1. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất 30%/năm. 4.2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ