- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đặng Văn Phước - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 423/2020/HSST Ngày: 17-8-2020. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Diệp
- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trương Thị Thìn – Cán bộ hưu trí.
2. Ông Nguyễn Trung Diễn – Cán bộ hưu trí.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến – Cán bộ Tòa án nhân dân TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Hoàng – i m s t vi n.
Ngày 17 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 406/2020/HSST ngày 17 tháng 7 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 435/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 8 năm 2020, đối với bị cáo:
Đặng Văn P, sinh năm 1976, tại Đồng Nai; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: 16E, tổ 2, khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nơi ở hiện nay: Như tr n; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ: hông; Trình độ học vấn: 03/12; Dân tộc: inh; Tôn gi o: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đặng Văn T, sinh năm 1964 và bà Ngô Thị M, sinh năm 1960; Gia đình có 04 anh em, bị c o là con thứ nhất, sống như vợ chồng với chị Phạm Thị Ánh P, sinh năm 1979 ( hông đăng ký kết hôn), có 03 con sinh năm 1997, năm 2001 và năm 2006; Tiền n, tiền sự: Không; Bị bắt tạm giữ ngày 28/4/2020, chuy n tạm giam theo Lệnh số 596 ngày 06/5/2020 của Cơ quan Cảnh s t điều tra Công an thành phố Biên Hòa. Hiện bị c o đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Biên Hòa. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ n được tóm tắt như sau:
Bị c o Đặng Văn P là người sử dụng tr i phép chất ma túy. Vào khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 27/4/2020, tại nhà số 1/117B, tổ 3, khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (do chị Vũ Thị Ngọc T làm chủ), bị c o được L Vũ Anh A (con g i chị T) cho 03 gói ma túy tổng hợp (Hàng đ ), bị c o nhận số ma túy tr n và cất giấu trong hộp kẹo Doublemint đ sử dụng.
Vào khoảng 13 giờ 45 phút, ngày 28/4/2020 tại địa chỉ n u tr n, bị c o P đang cất giấu 03 gói ma túy tổng hợp (Hàng đ ) trong hộp kẹo Doublemint đ trong túi quần của bị c o đang mặc thì bị Đội Cảnh s t điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Bi n Hòa ki m tra. Sợ bị Công an ph t hiện n n bị c o P lấy số ma túy tr n thả xuống nền nhà c ch chân P khoảng 60cm thì bị lực lượng Công an ph t hiện, bắt quả tang.
Chị Vũ Thị Ngọc T không biết việc Anh A cho bị c o P ma túy và P tàng trữ tr i phép chất ma túy.
Tang vật thu giữ gồm:
- 03 (ba) gói nylon chứa tinh th màu trắng đã được ni m phong có chữ ký của Đặng Văn P và hình dấu của Công an phường An Bình, thành phố Bi n Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Tài sản thu giữ của bị c o:
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung, thuê bao 0972 829 917, IMEI: 359929078365902/01;
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung, thuê bao 0944 039 049, IMEI: 359046081041970/01.
- Số tiền 3.300.000đ (Ba triệu ba trăm nghìn đồng).
(Số tài sản n u tr n không li n quan đến vụ n).
Tại bản kết luận giám định số 831/KLGĐ-PC09 ngày 05/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: “Mẫu tinh th màu trắng được ni m phong gửi đến gi m định là ma túy, có khối lượng 0,5110gam, loại Methamphetamine.
Tại cáo trạng số 421/CT/VKS-BH ngày 16 tháng 7 năm 2020, Viện Ki m sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Đặng Văn P, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại đi m c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phi n tòa, đại diện Viện Ki m sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội nêu tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị c o theo điều khoản và tội danh như đã nêu trên. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị c o như sau: Qu trình điều tra và tại phi n tòa bị c o P thành khẩn khai b o, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt (chưa tiền n, tiền sự) được quy định tại đi m s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo P không có tình tiết tăng nặng tr ch nhiệm hình sự.
Đối với L Vũ Anh A: Bị c o P khai số ma túy thu giữ là của A cho bị c o P với lý do bị c o thường xuy n đau nhức n n A cho bị c o sử dụng đ giảm đau. Hiện A không có mặt tại địa phương n n chưa làm việc được, Cơ quan cảnh s t điều tra Công an thành phố Bi n Hòa tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Đặng Văn P mức án từ 16 (Mười s u) th ng đến 20 (Hai mươi) tháng tù giam.
Tại phiên tòa, bị cáo P không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Ki m sát. Trong lời nói sau cùng bị c o đã nhận thức hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo Đặng Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tr n cơ sở nội dung vụ n, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh s t điều tra Công an thành phố Bi n Hòa, Điều tra vi n, Viện i m s t nhân dân thành phố Biên Hòa, i m s t vi n trong qu trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tại phi n tòa, bị c o không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan, người tiến hành tố tụng đều hợp ph p.
Về nội dung vụ n: Tại phi n tòa, bị c o Đặng Văn P khai nhận hành vi phạm tội của mình. Cụ th , vào khoảng 13 giờ 45 phút, ngày 28/4/2020, tại địa chỉ 1/117B, tổ 3, khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (do chị Vũ Thị Ngọc T làm chủ), bị cáo P đang cất giấu 03 gói ma túy tổng hợp (Hàng đ ) trong hộp kẹo Doublemint đ trong túi quần của bị c o đang mặc thì bị Đội Cảnh s t điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Bi n Hòa ph t hiện, bắt quả tang. Tại bản kết luận giám định số 831/KLGĐ-PC09 ngày 05/5/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: “Mẫu tinh th màu trắng được ni m phong gửi đến gi m định là ma túy, có khối lượng 0,5110 gam, loại Methamphetamine.
Về tội danh: Xét thấy, lời khai của bị cáo P tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người làm chứng, nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận gi m định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ x c định hành vi của bị cáo Đặng Văn P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại đi m c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Cáo trạng của Viện Ki m sát nhân thành phố Bi n Hòa đã truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng ph p luật. Bị cáo P có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi phạm tội của mình.
Về tính chất, mức độ hành vi: Hành vi của bị cáo là nguy hi m cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về các chất ma tuý, là nguy n nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và tội phạm hình sự; gây tác hại cho sức khỏe và gây ảnh nghiêm trọng đến trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị c o cũng đủ nhận thức và biết ma túy là chất gây nghiện có tác hại rất lớn cho người sử dụng và đối với xã hội, bị c o cũng nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Song với nhu cầu của bản thân mà bị c o đã bất chấp ph p luật và cố tình vi phạm. N n cần phải có mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị c o, cần c ch ly bị c o khỏi xã hội một thời gian đ cải tạo, gi o dục và có t c dụng răn đe, đấu tranh phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng tr ch nhiệm hình sự: Bị c o không có tiết tăng nặng tr ch nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ tr ch nhiệm hình sự: Xét thấy, trong qu trình điều tra và tại phi n tòa, bị c o P tỏ th i độ thành khẩn khai b o, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt (chưa tiền n, tiền sự) n n được hưởng tình tiết giảm nhẹ tr ch nhiệm hình sự quy định tại đi m s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Với các tình tiết giảm nhẹ tr n, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị c o đ th hiện tính khoan hồng của ph p luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị c o P tàng trữ trái phép chất ma tuý mục đích tàng trữ đ sử dụng cho bản thân mà không nhằm mục đích mua b n, vận chuy n trái phép chất ma túy. Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên không có điều kiện đ thi hành. Vì vậy, Hội đồng xét xử không p dụng hình phạt bổ sung đối với bị c o.
Về xử lý vật chứng trong vụ án:
Căn cứ đi m c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; đi m a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy của Cơ quan Cảnh s t điều tra Công an thành phố Bi n Hòa thu giữ sau gi m định.
- Tuy n trả 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung, thu bao 0972829917, IMEI: 359929078365902/01, 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung, thuê bao 0944039049, IMEI: 359046081041970/01 và số tiền 3.300.000đ (Ba triệu ba trăm nghìn đồng) do không li n quan đến vụ n.
Đối với L Vũ Anh A: Bị c o P khai số ma túy thu giữ là của A cho bị c o với lý do bị c o thường xuy n đau nhức n n A cho bị c o sử dụng đ giảm đau. Hiện A không có mặt tại địa phương n n chưa làm việc được, Cơ quan cảnh s t điều tra Công an thành phố Bi n Hòa tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo Đặng Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện ki m sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa, xét thấy tương đối phù hợp với những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định về vụ án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ đi m c khoản 1 Điều 249, đi m s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 47, 48 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 th ng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đặng Văn P 16 (Mƣời sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 28/4/2020.
3. Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu ti u hủy toàn bộ lượng ma túy của Cơ quan Cảnh s t điều tra Công an thành phố Bi n Hòa thu giữ sau gi m định;
- Tuy n trả cho bị c o P 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung, thu bao 0972829917, IMEI: 359929078365902/01, 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung, thuê bao 0944039049, IMEI: 359046081041970/01 (Theo bi n bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04 th ng 8 năm 2020) do không li n quan đến vụ n;
- Tuy n trả cho bị c o P số tiền 3.300.000đ (Ba triệu ba trăm nghìn đồng) do không li n quan đến vụ n (Theo bi n lai số 000116 ngày 04 th ng 8 năm 2020).
4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Đặng Văn P phải nộp số tiền 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đặng Văn P có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày k từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Tòa án tỉnh Đồng Nai; - Sở tư ph p tỉnh Đồng Nai; - VKSNDTP. Biên Hòa; - Cơ quan CSĐT Công an TP. Bi n Hòa; - T.H.A Hình sự; - Nhà tạm giữ - CA TP. Biên Hòa; - Chi cục THADS TP. Biên Hòa; - Bị cáo; - Lưu HS-VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trƣơng Thị Diệp |