vanban.org

Bản án 422/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thúy K. Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Thúy K và ông Huỳnh T.

Về con chung: Giao cháu Huỳnh Vũ Kim N sinh ngày 15/3/2019 và cháu Huỳnh Nguyễn Trung H sinh ngày 09/4/2021 cho bà Nguyễn Thị Thúy K trực tiếp nuôi dư ng. Về cấp dư ng: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Thúy K không yêu cầu ông Huỳnh T cấp dư ng cho con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị K ly hôn anh T"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thúy K. Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Thúy K và ông Huỳnh T.
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ HOÀI NHƠN
TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 422/2024/HNGĐ-ST
Ngày 24-9-2024
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀI NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hồng Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trương Thị Hồng Ngân Ông Cao Thanh Tâm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Tuyết Mai – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 24 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 224/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2024 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 253/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy K, sinh năm 1990, địa chỉ: Thôn K, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định. (Đề nghị xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Ông Huỳnh T, sinh năm 1991, địa chỉ: Khu phố T, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà K trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông T đăng ký kết hôn ngày 22/12/2015 tại Ủy ban nhân dân xã H (Giấy chứng nhận kết hôn số 164 quyển số 01/2015). Trong thời gian chung sống, vợ chồng không có hạnh phúc. Nay bà K yêu cầu ly hôn ông T.

Về con chung: Có hai con chung tên Huỳnh Vũ Kim N sinh ngày 15/3/2019 và Huỳnh Nguyễn Trung H sinh ngày 09/4/2021. Khi ly hôn, bà K yêu cầu nuôi cháu H, còn cháu N do ông T nuôi dư ng. Bà K không yêu cầu ông T cấp dư ng cho con.

Về tài sản: Không yêu cầu giải quyết.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Huỳnh T không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu của bà K, không đến Tòa án để làm việc theo giấy triệu tập, thông báo và giấy báo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Bà K yêu cầu ly hôn ông T, yêu cầu giải quyết về con chung, không yêu cầu về tài sản nên theo khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự quan hệ pháp luật được xác định là Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại: Khu phố T, phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định nên theo điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định có thẩm quyền giải quyết vụ án.

[2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Ông T đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên theo khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

Qua xác minh thì ông T có hộ khẩu thường trú tại khu phố T, phường H nhưng thường xuyên vắng mặt tại địa phương không rõ khi nào trở về. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo qui định. Tuy nhiên, ông T không nộp văn bản ghi ý kiến của mình, không đến làm việc theo giấy triệu tập, thông báo, giấy báo của Tòa án. Do đó, Tòa án không lấy ý kiến của ông T liên quan đến yêu cầu của bà K được. Ông T không có ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, không thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo qui định của pháp luật nên phải chịu trách nhiệm cho việc không thực hiện quyền và nghĩa vụ. Tòa án sẽ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án.

Về hôn nhân: Trong thời gian Tòa án giải quyết vụ án, bà K và ông T không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm, bà K vẫn cương quyết yêu cầu ly hôn ông T. Có thể thấy, hôn nhân giữa bà K và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho bà K ly hôn ông T.

Về con chung: Ông T hiện không có mặt tại địa phương, không rõ khi nào trở về nên việc giao con cho ông T nuôi theo yêu cầu của bà K sẽ không đảm bảo con chung được ông T nuôi dư ng. Cháu N, cháu H đang do bà K chăm sóc nuôi dư ng, có cuộc sống n định, bình thường. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển mọi mặt của các cháu, cần giao cháu N, cháu H cho bà K trực tiếp nuôi dư ng.

Về cấp dư ng cho con: Bà K tự nguyện không yêu cầu ông T cấp dư ng cho con nên ghi nhận.

Về tài sản: Không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: Bà K phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì những lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các điều 56, 81, 82, 83, 84, 110, 116 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Thúy K. Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Thúy K và ông Huỳnh T.

2. Về con chung: Giao cháu Huỳnh Vũ Kim N sinh ngày 15/3/2019 và cháu Huỳnh Nguyễn Trung H sinh ngày 09/4/2021 cho bà Nguyễn Thị Thúy K trực tiếp nuôi dư ng.

3. Về cấp dư ng: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Thúy K không yêu cầu ông Huỳnh T cấp dư ng cho con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dư ng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dư ng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đ i người trực tiếp nuôi con và thay đ i mức cấp dư ng cho con theo qui định của pháp luật.

4. Về tài sản: Không yêu cầu giải quyết.

5. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thúy K phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Bà K đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006508 ngày 10 tháng 6 năm 20243 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định nên được khấu trừ, bà K đã nộp xong.

6. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cư ng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ