vanban.org

Bản án 422/2023/HS-PT — Hình sự

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 06/12/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/12/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn C và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Xử phạt bị cáo Lê Văn C 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Bị cáo Lê Văn C phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn C - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn C và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 422/2023/HS-PT
Ngày 06-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Hương Giang

Các Thẩm phán:

Ông Lê Công Huân

Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Hồ Ngọc Trường - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thanh Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 432/TLPT-HS ngày 10 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo Lê Văn C do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 262/2023/HS-ST ngày 28 tháng 09 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo:

Lê Văn C; Sinh ngày 21 tháng 06 năm 1972 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: số C đường N, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn K và bà Trần Thị N; Bị cáo có vợ đã ly hôn và có 05 người con (lớn nhất sinh năm 1995, nhỏ nhất sinh năm 2012).

Tiền án: Toà án nhân nhân huyện C, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù về tội “Gá bạc” theo bản án số 201/2019/HSST, ngày 21 tháng 11 năm 2019 (chấp hành xong hình phạt tù ngày 01 tháng 09 năm 2021).

Tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại – Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 04 tháng 11 năm 2022, Lê Văn C, Quách Thiên T, Hồ Văn N1, Lương Văn D, Nguyễn Trường S, Lê Minh P, Nguyễn Anh M và Bùi Minh Q đến quán cà phê tại số B, đường N, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để uống cà phê. Sau đó, C rủ T, N1, D, S, P, M và Q chơi lắc bầu cua thắng thua bằng tiền thì tất cả đồng ý. Địa điểm chơi lắc bầu cua là nhà của ông Bùi Văn T1, phía sau quán cà phê, cùng địa chỉ quán cà phê, tại thời điểm này, ông T1 không có nhà. Dụng cụ để chơi gồm 01 đĩa tròn bằng kim loại, 01 hộp nhựa, 01 tờ giấy hình chữ nhật có in hình "Bầu, cua, tôm, cá, gà, nai" và 03 hột bầu cua bằng giấy, mỗi ván đặt cược từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Đến 21 giờ cùng ngày, C đang lắc bầu cua cho các con bạc trên đặt cược tổng số tiền 800.000 đồng trên chiếu thì bị Công an xã T đến kiểm tra phát hiện lập biên bản vụ việc, thu giữ của Lê Văn C: 01 đĩa tròn bằng kim loại; 01 hộp nhựa tròn; 01 tờ giấy hình chữ nhật có in hình bầu, cua, tôm, cá, gà, nai; 03 hột bầu cua bằng giấy và 1.300.000 đồng (800.000 đồng thu trên chiếu bạc và 500.000 đồng Lê Văn C dùng để đánh bạc). Thu giữ trên người của Lê Minh P 700.000 đồng, của Nguyễn Trường S 50.000 đồng, của Lương Văn D 250.000 đồng, của Hồ Văn N1 100.000 đồng, của Bùi Minh Q 600.000 đồng, của Quách Thiên T 200.000 đồng, tổng cộng là 1.900.000 đồng là số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 262/2023/HS-ST ngày 28-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã Quyết định:

Căn cứ Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: bị cáo Lê Văn C phạm tội: “Đánh bạc”.

Xử phạt: bị cáo Lê Văn C 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Ngoài ra Bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

Ngày 09 tháng 10 năm 2023 bị cáo Lê Văn C có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo bổ sung nội dung kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Bị cáo khai nhận hành vi làm cái đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức lắc bầu cua với các đối tượng Quách Thiên T, Hồ Văn N1, Lương Văn D, Nguyễn Trường S, Lê Minh P, Nguyễn Anh M và Bùi Minh Q thì bị Công an bắt quả tang, thu giữ tổng số tiền dùng đánh bạc là 3.200.000 đồng, trong đó số tiền bị cáo dùng đánh bạc là 500.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo có 01 tiền án về tội “Gá bạc”, chưa được xóa án tích. Bị cáo xin hưởng án treo để đi làm nuôi mẹ già.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, mức hình phạt là phù hợp. Xét, mặc dù bị cáo có 01 tiền án về tội “Gá bạc” đã dùng làm tình tiết định tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nhưng qua đó thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo là chưa tốt. Do đó, Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Lê Văn C và giữ nguyên bản án sơ thẩm đã tuyên đối với bị cáo.

Bị cáo Lê Văn C không tự bào chữa và không tham gia tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo Lê Văn C xin hưởng án treo để được tiếp tục đi làm nuôi gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Văn C về nội dung quyền kháng cáo và thời hạn kháng cáo thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra - Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thẩm phán, Thư ký Tòa án trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ lời khai của bị cáo Lê Văn C tại phiên tòa phúc thẩm, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 20 giờ 00 phút ngày 04 tháng 11 năm 2022, tại nhà số B đường N, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, bị cáo Lê Văn C đang thực hiện hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức lắc bầu cua, được thua bằng tiền với Quách Thiên T, Hồ Văn N1, Lương Văn D, Nguyễn Trường S, Lê Minh P, Nguyễn Anh M và Bùi Minh Q thì bị Cơ quan Công an phát hiện, bắt quả tang thu giữ tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 3.200.000 đồng. Đồng thời, xét nhân thân của bị cáo C có 01 tiền án về tội “Gá bạc” theo Bản án số 201/2019/HSST ngày 21-11-2016 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh nên hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc”.

Bản án sơ thẩm số: 262/2023/HS-ST ngày 28-9-2023 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã áp dụng khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Văn C về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội, không oan sai.

Về nội dung kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Lê Văn C, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Khi xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và quyết định mức hình phạt 09 tháng tù. Bị cáo kháng cáo xin được hưởng án treo, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm không cung cấp được tình tiết gì mới để Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm xem xét. Mặt khác, xét bị cáo có 01 tiền án về hành vi “Gá bạc”, chưa được xóa án tích, nay tiếp tục thực hiện hành vi “Đánh bạc” mặc dù tình tiết này đã sử dụng làm tình tiết định tội đối với bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nhưng qua đó thể hiện thái độ chấp hành pháp luật của bị cáo là chưa tốt nên việc cho bị cáo hưởng án treo sẽ ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương, cũng như không đảm bảo mục đích đấu tranh, phòng ngừa và loại bỏ tội phạm này ra khỏi đời sống xã hội.

Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn C và giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bị cáo Lê Văn C phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn C và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Lê Văn C 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,

Bị cáo Lê Văn C phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ