vanban.org

Bản án 422/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 422/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 27/9/2022
V/v “Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn,
nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A - TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thảo Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Tấn Phước;

2. Ông Phan Phước Tân.

- Thư ký phiên toà: Bà Triệu Thị Bình – Thư ký Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy – Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A mở xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 324/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 7 năm 2022 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 591 /2022/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 702/2022/QĐST-HNGĐ ngày 09/9/2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Chí T, sinh năm: 1988, nơi cư trú: tổ 09, ấp T, xã K, huyện A, tỉnh An Giang.

Bị đơn: Bà Phạm Thị Hồng Cẩm, sinh năm 1990, cư trú: tổ 09, ấp T, xã K, huyện A, tỉnh An Giang.

( Tại phiên tòa tất cả vắng mặt; ông T có đơn)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu kèm theo ông Nguyễn Chí T trình bày:

Về hôn nhân: Ông bà tiến đến hôn nhân là do tự tìm hiểu, khó khăn kinh tế nên không tổ chức đám cưới nhưng có đăng ký hôn tại Ủy ban nhân dân xã K vào năm 2020. Thời gian đầu chung sống tương đối hạnh phúc đến đầu năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, thường xuyên tranh cãi gây mất tình cảm vợ chồng. Bà C bỏ đi không liên lạc nên ông bà ly thân từ đó đến nay. Nhận thấy không có khả năng hàn gắn, quay về chung sống cũng không hạnh phúc nên ông nộp đơn xin ly hôn.

Về con chung, tài sản chung và nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông yêu cầu không tiến hành hòa giải mà đưa vụ án ra xét xử do ông kiên quyết ly hôn, không còn tình cảm với bà C. Đồng thời, ông xin vắng mặt tại phiên hòa giải và phiên tòa bảo lưu ý kiến.

Về tài liệu chứng cứ: Các tài liệu chứng cứ các đương sự giao nộp đã được thẩm tra và công khai trong quá trình hòa giải, các đương sự không có ý kiến gì về các tài liệu chứng cứ và tại phiên tòa không ai giao nộp bổ sung thêm tài liệu chứng cứ khác.

Trong quá trình thụ lý, hòa giải Tòa án đã tiến hành cấp tống đạt cho bà C theo quy định nhưng bà vẫn không có mặt theo các thông báo của Tòa án. Tòa án tiến hành xác minh nơi cư trú và tình trạng hôn nhân của ông T, bà C để giải quyết vụ án theo thủ tục chung.

Chứng cứ mà Tòa án thu thập được:

Về nơi cư trú: Theo sổ hộ khẩu số 3599 do Công an xã K cấp ngày 25/5/2020 xác định bà C vẫn còn đăng ký hộ khẩu tại ấp T, xã K, huyện A, tỉnh An Giang chưa thực hiện tách chuyển đi nơi khác.

Về mâu thuẫn hôn nhân: Ông Phạm Văn B – Ban nhân dân ấp T cho biết ông T và bà C tuy đăng ký hộ khẩu tại ấp nhưng phần lớn thời gian là đi mua bán xa cùng với gia đình anh chị em, thỉnh thoảng vào các dịp lễ tết mới có mặt ở địa phương. Do đó, mâu thuẫn ông bà không phát sinh tại địa phương nên ban nhân dân ấp và người dân sống gần nhà ông T - bà C không cung cấp được.

Tại phiên tòa, ông T vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, riêng bà C đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông bà theo thủ tục chung.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong ghi lời khai, thủ tục xét xử vắng mặt, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, việc xét hỏi tại phiên tòa, thời hạn xét xử cũng như thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Ông T chung sống với bà C đến năm 2021 thì không còn hạnh phúc nên ông khởi kiện yêu cầu được ly hôn, Tòa án thụ lý vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Bà C hiện có địa chỉ cư trú tại xã K, huyện A. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện A, An Giang.

Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Chí T, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hôn nhân: Ông T và bà C xây dựng gia đình trên hôn nhân tự nguyện được sự đồng ý của hai gia đình nhưng do điều kiện kinh tế không tiến hành tổ chức lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K vào ngày 22/5/2020 nên phát sinh trách nhiệm pháp lý, phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên và được pháp luật bảo vệ theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Mặc dù Tòa án đã động viên và hòa giải nhưng ông T vẫn cương quyết xin được ly hôn với bà C. Tại phiên tòa hòa giải ông T yêu cầu không tiến hành hòa giải do không còn tình cảm và tại phiên tòa hôm nay ông T vắng mặt đã thể hiện việc không thể quay lại chung sống với bà C. Hội đồng xét xử xét thấy thời gian ly thân từ năm 2021 đến nay nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn, ông T nhiều lần tìm cách liên hệ để hàn gắn nhưng không có kết quả.

Ông T cho rằng nguyên nhân xin ly hôn là do bất đồng quan điểm sống dẫn đến vợ chồng tranh cãi, bà C bỏ đi và không liên lạc. Nhiều lần ông tìm cách hàn gắn nhưng bà C trốn tránh, không đồng ý chung sống. Tuy không xác định được chính xác lời trình bày về mâu thuẫn của ông T - bà C nhưng Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn ông bà tồn tại trong thời gian dài từ năm 2020 mà không tìm được giải pháp hàn gắn, bà C bỏ đi không đồng ý chung sống thể hiện mâu thuẫn của ông bà là trầm trọng, không thể quay lại chung sống nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung, tài sản chung và nơ chung: Ông T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Ông T là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm. Các đương sự không phải chịu án phí nào khác.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 4 Điều 147, các Điều 227, 228, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ Điều 27, Nghị quyết số 326/2016 UBTVQH 14, ngày 30/12/2016;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Chí T.

1. Về hôn nhân: Ông Nguyễn Chí Tâm được ly hôn với bà Phạm Thị Hồng C.

Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 36 ngày22/5/2020 của Ủy ban nhân dân xã K mang tên ông Nguyễn Chí T và bà Phạm Thị Hồng C không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

2. Về án phí: Ông Nguyễn Chí T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm được chuyển từ tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007094 ngày 18/7/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện A (ông T đã nộp đủ). Các đương sự không phải chịu án phí nào khác.

3. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 27/9/2022) thời hạn kháng cáo của ông T và bà C được tính kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản án tại nơi cư trú.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ