vanban.org

Bản án 421/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nhữ Thị Duyên.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nhữ Thị Duyên được ly hôn với ông Trần Đình Thành. Quan hệ hôn nhân của bà Nhữ Thị Duyên và ông Trần Đình Thành (theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 12/2014, quyển số 01/2014 ngày 10/02/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thủy, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị) chấm dứt kể từ ngày b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "NHỮ THỊ DUYÊN- NGUYỄN ĐÌNH THÀNH"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nhữ Thị Duyên.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN TÂN PHÚ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 421/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25 - 5 - 2023
V/v: “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nhung

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Lành

2. Bà Trần Quang Cảnh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Vân - Thư ký Tòa án nhân dân Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Thu Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1003/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 232/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 302/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nhữ Thị Duyên. Sinh năm 1984; Cư trú: 470, tổ 3, Thôn Phước Hội, Xã Phước Ninh, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh.

2. Bị đơn: Ông Trần Đình Thành, sinh năm 1976; Cư trú: 20/59 Hồ Đắc Di, phường Tây Thạnh, quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Bà Duyên có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông Thành vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn - bà Nhữ Thị Duyên trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà và ông Thành tự nguyện chung sống, đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 12/2014, quyển số 01/2014 ngày 10/02/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thủy, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.

Quá trình chung sống sau khi kết hôn thời gian đầu khá hạnh phúc nhưng càng về sau giữa vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do lối sống không còn phù hợp, thường xuyên cãi vã về chi tiêu tiền bạc. Ông Thành thường xuyên cờ bạc dẫn đến nợ nần, không quan tâm đến vợ con. Hai bên đã sống ly thân từ tháng 01/2022 cho đến nay. Nay bà nhận thấy không còn tình cảm, mâu thuẫn đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn với ông Thành.

- Về quan hệ con chung: Bà Duyên và ông Thành có 01 con chung tên Trần Doanh Doanh, sinh ngày 16/6/2013, hiện con chung đang ở với bà Duyên. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông Thành cấp dưỡng nuôi con.

- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà Duyên khai không có.

Tòa án nhân dân quận Tân Phú đã tổ chức phiên hòa giải để các đương sự giải quyết ly hôn nhưng do bị đơn vắng mặt nên Tòa án lập biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

+ Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đều tuân theo đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án theo quy định tại các Điều 21, 28, 35, 39, 48, 51, 63, 68, 70, 71, 72, 171, 173, 177, 220, 234, 239, 248, 260 Bộ luật tồ tụng dân sự năm 2015.

+ Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà Duyên và ông Thành là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông Thành đến Tòa án để hòa giải nhưng ông không đến, điều đó cho thấy ông Thành không còn thiết tha trong việc hàn gắn hạnh phúc gia đình. Qua đó, nhận thấy mâu thuẫn giữa bà Duyên và ông Thành là có thật và đã thật sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài. Do đó, căn cứ vào Điều 56, Điều 57; Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, đề nghị Tòa án chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 12/2014, quyển số 01/2014 ngày 10/02/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thủy, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị, có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân của bà Duyên và ông Thành là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Bị đơn đang cư trú tại quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, do đó Tòa án nhân dân quận Tân Phú thụ lý, giải quyết vụ án là đúng quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về thủ tục xét xử vắng mặt các đương sự: Bà Duyên có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Duyên. Ông Thành đã được Tòa án triệu tập hợp lệ theo quy định tại Điều 177, Điều 179 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do chính đáng. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Thành.

Về yêu cầu của đương sự:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Duyên xác nhận mâu thuẫn vợ chồng là do lối sống không còn phù hợp, thường xuyên cãi vả về chi tiêu tiền bạc. Ông Thành thường xuyên cờ bạc dẫn đến nợ nần, không quan tâm đến vợ con. Hai bên đã sống ly thân từ tháng 01/2022 cho đến nay, bà không còn tình cảm với ông Thành. Toà án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông Thành để tham gia phiên họp, phiên hòa giải cũng như phiên tòa hôm nay nhưng ông Thành đều vắng mặt không có lý do chính đáng, điều đó cho thấy ông thành hoàn toàn không có thiện chí hàn gắn hạnh phúc gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử có cơ sở để xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà Duyên và ông Thành đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Duyên là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

- Về quan hệ con chung: Bà Duyên và ông Thành có 01 con chung tên Trần Doanh Doanh, sinh ngày 16/6/2013, hiện đang ở với bà Duyên. Bà Duyên yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung, không yêu cầu ông Thành cấp dưỡng nuôi con. Ông Thành không đến Tòa trình bày ý kiến về con chung nên không có cơ sở xem xét. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bà Duyên có căn cứ và phù hợp với nguyện vọng của con chung theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà Duyên xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của bà Duyên được Tòa án chấp nhận, nên bà Duyên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 177, Điều 179, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nhữ Thị Duyên.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nhữ Thị Duyên được ly hôn với ông Trần Đình Thành.

Quan hệ hôn nhân của bà Nhữ Thị Duyên và ông Trần Đình Thành (theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 12/2014, quyển số 01/2014 ngày 10/02/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Thủy, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị) chấm dứt kể từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

- Về quan hệ con chung: Giao bà Duyên trực tiếp nuôi con chung tên Trần Doanh Doanh, sinh ngày 16/6/2013. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho ông Thành do bà Duyên không yêu cầu.

+ Ông Thành có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nuôi con của người đó.

+ Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.

+ Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà Duyên xác nhận không có.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Án phí giải quyết tranh chấp về hôn nhân gia đình là 300.000 đồng do bà Duyên chịu, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng bà Duyên đã nộp theo Biên lai thu số 0036278 ngày 13/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Nhữ Thị Duyên, ông Trần Đình Thành được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết bản án. Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ