vanban.org

Bản án 421/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 31/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Dƣơng Tuấn A và bị cáo Hoàng Triệu L , phạm tội: “Làm giả tài liệu cơ quan, tổ chức”.

[2] Về hình phạt: [3] Hình phạt bổ sung: Áp dụng Điều 35; khoản 4 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015 phạt bổ sung bị cáo Dƣơng Tuấn A 5.000.000đ (Năm triệu đồng) sung ngân sách nhà nƣớc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Tuân A cùng đồng phạm làm giả tài liệu - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả củ…"
  • Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Dƣơng Tuấn A và bị cáo Hoàng Triệu L , phạm tội: “Làm giả tài liệu cơ quan, tổ chức”.
  • Căn cứ chính? Điều 341 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 421/2018/HS-ST
Ngày: 31-10-2018

NHÂN DANH

NƢỚ C CỘNG HÒ A XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIÊT NAṂ

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phá n - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Bích Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Phƣợng

2. Ông Phạm Đức L

Thư ký phiên tò a: Bà Ma Thị Huyền Nhunng- Thƣ ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diê ̣n Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tò a: Bà Nguyễn Thị Bình Nguyên – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 31 tháng 10 năm 2018, tại hội trƣờng Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 436/2018/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2018 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 424/2018/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 10 năm 2018 đối các bị cáo:

1) Dƣơng Tuấn A, tên gọi khác: Không, sinh ngày 23/10/1990, tại Lạng Sơn; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: thôn Hl, xã HV, huyện BS, tỉnh LS; nơi đã cƣ trú: phòng X, Chung cƣ HĐ, phƣờng 1Y, Quận G, TPHCM, Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Tày; Con ông: Dƣơng Công Th, sinh năm 1961 và bà : Hoàng Thị M, sinh năm 1961; vợ, con: Chƣa; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sƣ̣: không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2018 đến ngày 27/6/2018 đƣợc thay thế biện pháp ngăn chặn, hiện tại ngoại. (Có mặt tại phiên tòa)

2) Hoàng Triệu L, tên gọi khác: Không, sinh ngày 30/10/1980, tại BG; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: số nhà Z, ngõ K, đƣờng BK, tổ M, phƣờng HVT, TPTN, tỉnh TN; nơi đã cƣ trú: xã HS, huyệnHH, tỉnh BG; Nghề nghiệp: Cán bộ TTDN tỉnh TN; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; Là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, Con ông: Hoàng Văn Tr, sinh năm 1954 (đã chết) và bà: Dƣơng Thị Th, sinh năm 1954; vợ: Đặng Thị Th, sinh năm 1985; con: có 02 con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2015; Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Tiền án, tiền sƣ̣: không.

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào hiện tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa)

* Ngƣời làm chứng :

1) Chị Trần Thị T, sinh năm 1981 (vắng mặt)

HKTT: Thôn AL, xã QH, huyện QP, tỉnh TB.

2) Anh Nguyễn Đình H, sinh năm 1989 (vắng mặt)

HKTT: xóm NM, xã BV, huyện CM, tỉnh BK.

3) Anh Thông Lý P, sinh năm 1995 (vắng mặt)

HKTT: Thôn MR, xã PTh, huyện BA, tỉnh NT

*Ngƣời chứng kiến:

1) Anh Lã Thanh B, sinh năm 1975 (vắng mặt)

HKTT: tổ X, phƣờng TT, TPTN, tỉnh TN.

2) Chị Đặng Thị Th, sinh năm 1985 (có mặt)

HKTT: số nhà Z, ngõ K, đƣờng BK, tổ M, phƣờng HVT, TPTN, tỉnh TN

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Dƣơng Tuấn A không có nghề nghiệp ổn định, đầu năm 2017 đến quận GV, thành phố HCM tìm việc làm, do không tìm đƣợc việc nên Tuấn A nảy sinh ý định bán bằng giả, chứng chỉ giả lấy tiền tiêu xài cá nhân. Tuấn A sử dụng số điện thoại 0937.943.996 đăng thông tin nhận làm bằng giả lên mạng Internet cùng số điện thoại của mình để ai có nhu cầu đặt mua bằng giả, chứng chỉ giả sẽ liên lạc với Tuấn A. Khi có ngƣời đặt mua bằng, chứng chỉ giả, Tuấn A tiếp tục đặt mua qua mạng internet của những ngƣời không quen biết rồi bán lại kiếm lời. Từ giữa năm 2017 đến tháng 01 năm 2018, Tuấn Ađã nhiều lần bán bằng giả, chứng chỉ giả, cụ thể nhƣ sau:

Tháng 11/2017, Trịnh Văn Đ (sinh năm 1988, HKTT: Thôn AL, xã QH, huyện QP, tỉnh TB) hiện đang du học ở Nhật Bản) là học sinh cũ của Hoàng Triệu L có gọi điện thoại về Việt Nam qua phần mềm Messenger nhờ L mua giúp 01 bằng liên thông từ Trung cấp lên Cao đẳng, ngành điện công nghiệp để hoàn thiện hồ sơ du học của Đ tại Nhật Bản. L đồng ý và vào mạng Internet để tìm địa chỉ nhận làm bằng giả, L thấy thông tin mà Dƣơng Tuấn A đăng tải trên mạng nên đã liên hệ qua phần mềm zalo với Tuấn A. L dùng tài khoản zalo là “HL” số điện thoại 0984804692 liên hệ với Dƣơng Tuấn A qua tài khoản zalo là “Trung K” có số thuê bao 0937943996 để nhắn tin qua zalo với Tuấn A đặt mua bằng giả cho Đ. L và Tuấn A thỏa thuận làm bằng Cao đẳng điện công nghiệp của Trƣờng Đại học Công nghiệp Hà Nội với giá là 4.300.000đồng, sau đó L thông báo cho Đ giá làm bằng giả là 10.000.000 đồng, Đ đồng ý. Sau khi thỏa thuận và tiếp nhận thông tin của Đ từ L, Tuấn A vào mạng internet để đặt mua bằng giả của 01 ngƣời không quen biết cho Đ với giá 2.000.000 đồng. Khoảng 01 tuần sau, Tuấn A gửi cho L bằng giả cùng bản photo công chứng và 01 bảng kết quả học tập mang tên Trịnh Văn Đ của trƣờng Đại học Công nghiệp Hà Nội qua đƣờng bƣu điện theo hình thức “nhận hàng - trả tiền” (COD) cho L. Khi nhận đƣợc hàng L đã thanh toán số tiền 4.300.000 đồng qua bƣu điện cho Tuấn A đồng thời gửi sang Nhật Bản cho Đ bằng dịch vụ chuyển phát nhanh của bƣu điện với mức phí chuyển là 500.000 đồng. Khi nhận đƣợc thông tin có bằng Đ nhờ chị gái là Trịnh Thị T(Sinh năm 1981, HKTT: Xã QH, huyện QP, tỉnh TB) chuyển số tiền 15.000.000 đồng vào tài khoản của Hoàng Triệu L mở tại ngân hàng Viettinbank. Tuy nhiên, do bằng không đạt yêu cầu tháng 01/2018 Đ đã nhắn tin qua phần mềm Messenger cho L nhờ chỉnh sửa lại bằng, L tiếp lục liên hệ với Tuấn A qua mạng zalo đã liên hệ trƣớc đó để làm lại chiếc bằng giả khác theo yêu cầu của Đ. Giữa Tuấn Avà L đã thống nhất giá làm lại bằng là 3.000.000đ, L thông báo với Đ giá làm lại bằng giả là 5.000.000đ, Đ đồng ý. Tuấn A tiếp tục vào mạng internet đặt ngƣời đã làm bằng trƣớc đó cho Đ để làm lại bằng với giá 2.000.000 đồng, khi đƣợc bằng Tuấn A gửi bằng giả trên và bảng kết quả học tập kèm theo bản photo công chứng cho L qua đƣờng bƣu điện bằng hình thức “nhận hàng - trả tiền” (COD).

Ngày 28/01/2018, L trực tiếp tới bƣu điện tỉnh Thái Nguyên tại tổ X, phƣờng PĐP, thành phố Thái Nguyên để nhận bằng giả và thanh toán số tiền 3.000.000 đồng để bƣu điện chuyển cho Tuấn A. Khi L đi ra từ cửa bƣu điện thì bị Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên kiểm tra, L thừa nhận đó là bằng giả, cơ quan điều tra đã lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng gồm: 01 bằng tốt nghiệp Cao đẳng Điện công nghiệp có số hiệu B791438, số vào sổ cấp bằng: LT.795 thể hiện ngày cấp là 20/8/2014, nơi cấp là Trƣờng Đại học Công nghiệp Hà Nội, ngƣời ký cấp là PGS.TS Trần Đức Quý, tên ngƣời đƣợc cấp bằng là Trịnh Văn Đ (ký hiệu A1); 01 bảng kết quả học tập của Trịnh Văn Đ tại trƣờng Đại học Công nghiệp Hà Nội đề ngày 16/7/2014, có chữ ký của TS. Kiều Xuân Thực (Ký hiệu A2).

Hồi 10 giờ ngày 28/01/2018, tiến hành khám xét phòng làm việc của Hoàng Triệu L tại TTDNTN, Cơ quan Công an phát hiện thu giữ: 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Sony Vaio màu bạc, Model: PCG - 7Z2L, đã qua sử dụng; 01 Giấy chứng nhận nghiệp vụ quản lý cơ sở dạy nghề; 01 giấy chứng nhận ứng dụng công nghệ E-LEARNING trong quản lý cơ sở dạy nghề; 01 Bằng kỹ sƣ Công nghệ kỹ thuật cơ khí của trƣờng Đại học điện lực Hà Nội; 01 bảng kết quả học tập; 01 Giấy chứng nhận tốt nghiệp kỳ thi của Trung tâm dạy nghề điện tử tin học Thái Nguyên, ngành nghề: Tin học văn phòng; 01 Giấy chứng nhận tốt nghiệp kỳ thi của Trung tâm dạy nghề điện tử tin học Thái Nguyên, ngành nghề: Tiếng Anh; 01 Chứng chỉ sƣ phạm dạy nghề trình độ trung cấp nghề, cao đẳng nghề; 01 Chứng chỉ nghiệp vụ sƣ phạm Khoa sƣ phạm – KTTN, trƣờng đại học Nông lâm Thái Nguyên; 01 Bằng tốt nghiệp Cao đẳng của trƣờng Cao đẳng Công nghiệp Hà Nội; 01 Giấy chứng nhận tốt nghiệp đại học của Đại học Điện lực Hà Nội tất cả đều mang tên Hoàng Triệu L; 01 giấy khai sinh bản sao, 01 đơn xin học nghề ngắn hạn đều mang tên Lâm Văn Đg. Tiến hành khám xét chỗ ở của Hoàng Triệu L tại số X tổ M, phƣờng HVT, TPTN hồi 11 giờ 30 phút ngày 28/01/2018 Cơ quan Công an phát hiện thu giữ: 01 túi đựng hồ sơ đề tên Phạm Thị Q và 01 túi đựng hồ sơ mang tên Ma Khánh H. Ngày 07/02/2018, Hoàng Triệu L giao nộp cho Cơ quan Công an số tiền 7.200.000 đồng là tiền L thu lợi từ việc bán bằng giả cho Trịnh Văn Đ.

Tổ công tác của Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Cơ quan an ninh điều tra Công an thành phố Hồ Chí Minh và Công an phƣờng X, quận TB, thành phố HCM tiến hành xác minh tại bƣu cục Ba Vì – chi nhánh tổng công ty chuyển phát nhanh bƣu điện tại Thành phố HCM hồi 14 giờ 15 phút ngày 29/01/2018 phát hiện Dƣơng Tuấn A đang có mặt ở bƣu cục có biểu hiện nghi vấn. Qua kiểm tra Dƣơng Tuấn A thừa nhận đến để nhận tiền bán bằng giả, Tuấn A đã giao nộp cho tổ công tác 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Dƣơng Tuấn A, ngoài ra cơ quan điều tra thu số tiền 7.000.000đ đang để ở túi quần trƣớc bên trái Tuấn A đang mặc, 01 điện thoại di động màu vàng đã qua sử dụng nhãn hiệu IPHONE, thu trên tay phải Dƣơng Tuấn A cầm 02 tờ phiếu gửi dịch vụ chuyển phát nhanh EMS COD (01 phiếu gửi thể hiện ngƣời gửi là Dƣơng Tuấn A, ngƣời nhận là M-0901252799, 01 phiếu gửi thể hiện ngƣời gửi là Dƣơng Tuấn A, ngƣời nhận là Dao Duy K– 0163.9696.429). Dƣơng Tuấn A khai nhận đến bộ phận giao dịch COD để nhận số tiền từ việc bán bằng giả cho Hoàng Triệu L, Nguyễn Đình H và 01 đối tƣợng tên Thông Lý P tại Ninh Thuận. Tổ công tác đã lập biên bản sự việc đối với Dƣơng Tuấn A và thu giữ các đồ vật, tài sản trên, khám xét nơi ở của Dƣơng Tuấn A không thu giữ gì.

Hồi 18 giờ 30 phút ngày 30/01/2018, tại Cơ quan An ninh điều tra công an tỉnh Thái Nguyên, cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Iphone thu giữ của Tuấn A phát hiện tại ứng dụng “Ảnh” có nhiều hình ảnh chụp các bằng tốt nghiệp, bảng kết quả học tập, chứng chỉ giả và hóa đơn chuyển phát nhanh do Tuấn A gửi đi cho những ngƣời mua bằng giả, chứng chỉ giả. Dƣơng Tuấn A thừa nhận: khoảng tháng 01/2018, có Nguyễn Đình H (sinh năm 1989; HKTT: Xã BV, huyện CM, tỉnh BK) đã sử dụng tài khoản zalo là “H” với số thuê bao 01656066816 liên hệ với Dƣơng Tuấn A qua tài khoản “Trung K” đặt mua 01 chứng chỉ tiếng Anh trình bộ B của trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội, hai bên thống nhất giá làm chứng chỉ giả là 1.500.000 đồng. Sau khi thỏa thuận xong, Tuấn A vào mạng Internet để đặt mua của 01 ngƣời không quen biết chứng chỉ giả cho H với giá 800.000 đồng. Khi lấy đƣợc chứng chỉ Tuấn A gửi qua đƣờng bƣu điện bằng hình thức “nhận hàng - trả tiền” (COD) cho Nguyễn Đình H. Ngày 01/02/2018, Nguyễn Đình H đã giao nộp cho Cơ quan điều tra chứng chỉ Tiếng Anh trình độ B, số hiệu: A1269107, số vào sổ cấp chứng chỉ: 13/QB7892, ngƣời đƣợc cấp mang tên Nguyễn Đình H, có 01 dấu đỏ của trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội, 01 chữ ký của ông Nguyễn Văn Minh - Hiệu trƣởng trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội (ký hiệu B1) đã mua của Tuấn A.

Quá trình điều tra xác minh tại Trƣờng Đại học Công nghiệp Hà Nội xác định: Trƣờng Đại học Công nghiệp Hà Nội không cấp bằng cho ngƣời có tên Trịnh Văn Đ, Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội xác định nhà trƣờng không cung cấp chứng chỉ ngoại ngữ nhƣ nêu trên cho Nguyễn Đình H.

Tại Kết luận giám định số 348/KL-PC54 ngày 06/02/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên đối với tài liệu của Trịnh Văn Đ kết luận:

1. Hình dấu, chữ ký trên tài liệu cần giám định gồm “Bằng tốt nghiệp Cao Đẳng” cấp cho Trịnh Văn Đ và “Bảng kết quả học tập” cấp cho Trịnh Văn Đ gửi giám định (Ký hiệu A1, A2) đƣợc đóng, ký trực tiếp.

2. Hình dấu có nội dung “BỘ CÔNG THƢƠNG TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI” trên tài liệu cần giám định (A1, A2) so với hình dấu có cùng nội dung trên tài liệu mẫu so sánh “Biên bản thu mẫu dấu đề ngày 29/01/2018 của Trƣờng Đại học công nghiệp Hà Nội” và “Biên bản thu mẫu chữ ký đề ngày 29/01/2018 của PGS.TS Trần Đức Quý và TS. Kiều Xuân Thực” (ký hiệu M1, M2) không phải do cùng một con dấu đóng ra.

3. Chữ ký mang tên PGS.TS Trần Đức Quý trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1) so với chữ ký của PGS.TS Trần Đức Quý trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M2) không phải do một ngƣời ký ra.

4. Chữ ký mang tên TS. Kiều Xuân Thực trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A2) so với chữ ký của TS. Kiều Xuân Thực trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M2) không phải do một ngƣời ký ra.

Tại Kết luận giám định số 600/KL-PC54 ngày 20/4/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên đối với tài liệu liên quan đến Nguyễn Đình H xác định:

1. Hình dấu tròn đỏ có nội dung “BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI” trên tài liệu cần giám định là “Chứng chỉ tiếng Anh- trình độ B” (ký hiệu B1) so với hình dấu tròn đỏ có cùng nội dung trên tài liệu mẫu so sánh “Công văn số 170/ĐHSPHN-ĐT của Trƣờng đại học sƣ phạm Hà Nội” (ký hiệu N1) không phải do cùng 01 con dấu đóng ra.

2. Chữ ký mang tên PGS.TS Nguyễn Văn Minh trên tài liệu cần giám định (Ký hiệu B1) so với chữ ký của GS.TS Nguyễn Văn Minh trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu N1) không phải do cùng một ngƣời ký ra.

Bản cáo trạng số 377/CT-VKSTPTN ngày 02 tháng 09 năm 2018 của Viê ̣n kiểm sát nhân dân thành ph ố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên truy tố b ị cáo Dƣơng Tuấn A về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm b,c khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự và Hoàng Triệu L về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận về hành vi phạm tội của mình, Dƣơng Tuấn A xác định do không có việc làm, cần có tiền tiêu sài nên đã sử dụng số điện thoại 0937.943.996 đăng tin nên ineternet bán các loại bằng, cấp chứng chỉ giả cùng với số điện thoại của mình, khi có ngƣời liên hệ mua thì tiếp tục liên hệ qua mạng để làm và bán lại kiếm lời. Từ giữa năm 2017 Tuấn A đã làm và bán cho một số ngƣời trong đó có Hoàng Triệu L và Nguyễn Đình H. Hoàng Triệu L thừa nhận hành vi phạm tội của mình, do học sinh cũ của mình là Trịnh Văn Đ muốn hoàn thiện hồ sơ du học tại Nhật và nhờ L xem có làm đƣợc bằng giả không nên L đã vào mạng tìm và làm bằng giả cho Đ nhƣ nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Dƣơng Tuấn A và Hoàng Triệu L phạm tội Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức.

Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 341; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Dƣơng Tuấn A 24-30 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i,s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Phạt Bị cáo Hoàng Triệu L 30.000.000đ-40.000.000đ.

Áp dụng khoản 4 Điều 341 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bị cáo Dƣơng Tuấn A 5.000.000đ- 7.000.000đ

Vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015. Tịch thu sung quỹ nhà nƣớc 01 điện thoại di động Sam sung của Hoàng Triệu L; 01 điện thoại Iphone của Dƣơng Tuấn A; Tịch thu số tiền 14.200.000đ thu của các bị cáo sung quỹ nhà nƣớc.

Trả lại cho Dƣơng Tuấn A 01 chứng minh nhân dân mang tên Dƣơng Tuấn A. Trả lại cho Hoàng Triệu L 01 máy tính xách tay nhãn hiệu Sony Vaio; các giấy tờ mang tên Hoàng Triệu L

Tịch thu tiêu hủy: 01 Giấy khai sinh bản sao mang tên Lâm Văn Đg, 01 đơn xin học nghề ngắn hạn của Lâm Văn Đg; 01 túi đựng hồ sơ đề tên Phạm Thị Q, 01 túi đựng hồ sơ mang tên Ma Khánh H;

Án phí áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ quốc hội về án phí lệ phí tòa án Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật

Các Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, Lời nói sau cùng bị cáo Tuấn Anh nhận thức đƣợc hành vi của mình, do không hiểu biết pháp luật, không lƣờng trƣớc hậu quả xảy ra đến nay rất ăn năn hối hận về hành vi của mình mong hội đồng xét xử xem xét cho hƣởng mức án hợp lý nhất để cải tạo tốt cũng nhƣ có cơ hội sửa chữa lỗi lầm; bị cáo L nhận thức hành vi của mình, ăn năn hối hận về hành vi của mình mong HĐXX xem xét xử ở mức hình phạt thấp nhất hoặc đƣợc phạt tiền để tiếp tục đƣợc công tác, phụng giƣỡng mẹ già, nuôi dậy con nhỏ và có cơ hội sửa chữa sai lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy nhƣ sau:

Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Nhận định của Hội đồng xét xử về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay là hoàn toàn khách quan, phù hợp với nhau và phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập có trong hồ sơ vụ án nhƣ biên bản sự việc; biên bản khám xét, vật chứng thu giữ và kết luận giám định. Nhƣ vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: Từ tháng 11 năm 2017 đến tháng 01 năm 2018, Dƣơng Tuấn A đã nhiều lần có hành vi đặt mua bằng giả, chứng chỉ giả của những đối tƣợng không quen biết rồi bán lại cho những ngƣời có nhu cầu làm bằng giả, chứng chỉ giả để hƣởng tiền chênh lệch. Hoàng Triệu L đã liên hệ với Tuấn Ađể mua bằng giả hộ Trịnh Văn Đ để hƣởng tiền chênh lệch cụ thể nhƣ sau:

Khoảng tháng 11/2017, Trịnh Văn Đ nhờ Hoàng Triệu L mua hộ 01 bằng liên thông từ Trung cấp lên Cao đẳng, ngành điện công nghiệp để hoàn thiện hồ sơ du học của Đ tại Nhật Bản với giá 10.000.000 đồng. L đã thỏa thuận với Dƣơng Tuấn A làm cho Đ 01 bằng Cao đẳng điện công nghiệp của Trƣờng Đại học Công nghiệp Hà Nội với giá là 4.300.000 đồng. Sau đó, Tuấn A vào mạng internet để đặt mua bằng giả của 01 ngƣời không quen biết với giá 2.000.000 đồng, sau khi làm xong bằng giả Tuấn A gửi cho L. Khi nhận đƣợc bằng L gửi sang Nhật Bản cho Đ với chi phí gửi là 500.000 đồng, do bằng không đạt yêu cầu nên tháng 01 năm 2018, L tiếp tục liên hệ với Tuấn A để chỉnh sửa 01 số nội dung so với bằng giả trƣớc đó với giá thỏa thuận là 3.000.000 đồng, L thông báo với Đ giá là 5.000.000 đồng, Tuấn A thống nhất với ngƣời đã làm bằng trƣớc đó với giá 2.000.000 đồng. Sau khi làm xong bằng giả Tuấn A gửi cho L qua đƣờng bƣu điện, đến ngày 28/01/2018 khi Hoàng Triệu L tới Bƣu điện tỉnh Thái Nguyên (tại tổ 4, phƣờng Phan Đình Phùng, thành phố Thái Nguyên) nhận bằng và thanh toán số tiền 3.000.000 đồng cho Tuấn A, khi nhận xong ra đến ngoài cửa thì bị Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Thái Nguyên phát hiện, lập biên bản sự việc.

Khoảng tháng 01/2018, Nguyễn Đình H đã liên hệ với Dƣơng Tuấn A làm 01 chứng chỉ tiếng Anh trình bộ B giả của trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội, 02 bên đã thỏa thuận thống nhất với giá 1.500.000 đồng. Sau đó, Tuấn Avào mạng Internet để đặt mua của 01 ngƣời không quen biết chứng chỉ giả cho H với giá 800.000 đồng sau đó chuyển bằng giả trên cho H, ngày 01/2/2018 H đã nộp chứng chỉ trên cho cơ quan điều tra.

Tại Kết luận giám định số 348/KL-PC54 ngày 06/02/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên đối với tài liệu của Trịnh Văn Đ kết luận:

1. Hình dấu, chữ ký trên tài liệu cần giám định gồm “Bằng tốt nghiệp Cao Đẳng” cấp cho Trịnh Văn Đ và “Bảng kết quả học tập” cấp cho Trịnh Văn Đ gửi giám định (Ký hiệu A1, A2) đƣợc đóng, ký trực tiếp.

2. Hình dấu có nội dung “BỘ CÔNG THƢƠNG TRƢỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP HÀ NỘI” trên tài liệu cần giám định (A1, A2) so với hình dấu có cùng nội dung trên tài liệu mẫu so sánh “Biên bản thu mẫu dấu đề ngày 29/01/2018 của Trƣờng Đại học công nghiệp Hà Nội” và “Biên bản thu mẫu chữ ký đề ngày 29/01/2018 của PGS.TS Trần Đức Quý và TS. Kiều Xuân Thực” (ký hiệu M1, M2) không phải do cùng một con dấu đóng ra.

3. Chữ ký mang tên PGS.TS Trần Đức Quý trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A1) so với chữ ký của PGS.TS Trần Đức Quý trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M2) không phải do một ngƣời ký ra.

4. Chữ ký mang tên TS. Kiều Xuân Thực trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A2) so với chữ ký của TS. Kiều Xuân Thực trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu M2) không phải do một ngƣời ký ra.

Tại Kết luận giám định số 600/KL-PC54 ngày 20/4/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên đối với tài liệu liên quan đến Nguyễn Đình H xác định:

1. Hình dấu tròn đỏ có nội dung “BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI” trên tài liệu cần giám định là “Chứng chỉ tiếng Anh- trình độ B” (ký hiệu B1) so với hình dấu tròn đỏ có cùng nội dung trên tài liệu mẫu so sánh “Công văn số 170/ĐHSPHN-ĐT của Trƣờng đại học sƣ phạm Hà Nội” (ký hiệu N1) không phải do cùng 01 con dấu đóng ra.

2. Chữ ký mang tên PGS.TS Nguyễn Văn Minh trên tài liệu cần giám định (Ký hiệu B1) so với chữ ký của GS.TS Nguyễn Văn Minh trên tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu N1) không phải do cùng một ngƣời ký ra.

Dƣơng Tuấn A mặc dù biết Hoàng Triệu L và Nguyễn Đình H đặt mua bằng giả với mục đích sử dụng trái pháp luật tuy nhiên Dƣơng Tuấn A đã đặt mua các tài liệu giả để bán lại cho Hoàng Triệu L và Nguyễn Đình H thu lời bất chính 3.860.000đ. Hoàng Triệu L biết Trịnh Văn Đ nhờ mua bằng giả với mục đích sử dụng trái pháp luật vẫn đặt mua của Dƣơng Tuấn A 01 bằng Cao Đẳng giả để bán cho Trịnh Văn Đ thu lợi bất chính số tiền là 7.200.000 đồng, do đó hành vi của các bị cáo phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại Điều 341 Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật quy định:

“1.Ngƣời nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan tổ chức….thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000đ, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trƣờng hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

….b) Phạm tội 02 lần trở lên;

c) Làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác”

Xét tính chất, mức độ, hành vi, vai trò của các bị cáo: tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, xâm phạm đến sự hoạt động bình thƣờng và uy tín của các cơ quan, tổ chức, ảnh hƣởng xấu đến an ninh trật tự, vì vậy cần phải đƣợc xử lý bằng pháp luật hình sự.

Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: các bị cáo chƣa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình do đó cả 2 bị cáo đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Hoàng Triệu L phạm tội lần đầu thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình công tác bị cáo có thành tích đạt danh hiệu chiến sỹ thi đua cơ sở năm 2015, bố bị cáo đƣợc nhà nƣớc tặng thƣởng Huy chƣơng, Bộ trƣởng Bộ lao động- thƣơng binh và xã hội tặng Bằng khen là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo L có công việc ổn định đƣợc đơn vị nơi công tác xác nhận, có nơi cƣ trú ổn định và có đơn đề nghị xử phạt bằng hình thức phạt tiền, Hội đồng xét xử thấy xử phạt bị cáo bằng hình thức phạt tiền là hình phạt chính cũng đảm bảo tác dụng giáo dục pháp luật đối với bị cáo, đồng thời răn đe phòng chống tội phạm chung.

Hình phạt bổ sung: khoản 4 Điều 341 Bộ luật hình sự quy định "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng". Bị cáo Tuấn Aphạm tội với mục đích thu lời nên cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền sung quỹ nhà nƣớc. Đối với bị cáo L đã áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Xử lý vật chứng:

Đối với số tiền thu của bị cáo Hoàng Triệu L và của Dƣơng Tuấn A xác định là tiền thu lời từ việc mua bán bằng giả nên tịch thu sung quỹ nhà nƣớc. Đối với điện thoại thu của các bị cáo sử dụng vào nhắn tin trao đổi mua bán bằng giả cần tịch thu sung quỹ nhà nƣớc, Giấy tờ khám xét mang tên Hoàng Triệu L, Dƣơng Tuấn A và máy tính thu của L không liên quan đến vụ án cần trả cho Hoàng Triệu L, Dƣơng Tuấn A quản lý sử dụng. Tịch thu tiêu hủy những giấy tờ không liên quan đến vụ án khi khám xét, thu tại nhà của Hoàng Triệu L.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Quyền kháng cáo: Bị cáo đƣợc quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong vụ án này còn có Nguyễn Đình H là ngƣời đã mua bằng giả của Dƣơng Tuấn A với mục đích nộp hồ sơ thi tuyển công chức, quá trình điều tra H đã nộp lại bằng giả cho cơ quan điều tra lƣu tại hồ sơ vụ án và Ủy ban nhân dân thành phố Thái Nguyên đã có Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với H nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Trịnh Văn Đ là ngƣời mua bằng giả của Dƣơng Tuấn A thông qua Hoàng Triệu L hiện đang học tập, lao động tại Nhật Bản, Hội đồng xét xử kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ hành vi của Đ.

Đối với Trịnh Thị T là ngƣời đƣợc Trịnh Văn Đ nhờ chuyển tiền cho Hoàng Triệu L, chị Tuyết xác định không biết việc mua bằng giả do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

Ngoài thực hiện hành vi mua và bán bằng giả cho Trịnh Văn Đ, Nguyễn Đình H trong vụ án này, qua xem xét hình ảnh về thông tin của ngƣời mua bằng giả, chứng chỉ giả thu giữ từ điện thoại thu giữ của Tuấn Avà lời khai của Dƣơng Tuấn A xác định đã nhiều lần mua và bán bằng giả, chứng chỉ giả của một số ngƣời khác nhƣ: Thông Lý P, sinh năm 1995, HKTT: Thôn MR, xã PTh, huyện BA, tỉnh NT; Đào Duy K, địa chỉ 43/60 Lê Hữu Tr, Quận ST, thành phố ĐN; Lê Quốc A, sinh năm 1994 và Đàm Tấn D, sinh 1996 tại KG; Nguyễn Thị Kim Y, sinh ngày 20/11/1994 tại ấp I, xã PTh, huyện CN, tỉnh TrV; Nguyễn Thị Kim Y ở Bƣu cục Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ; ngƣời tên M, địa chỉ số 879 đƣờng 30/4 phƣờng Z, thành phố VT, tỉnh BR- VT; Lê Huỳnh Đ, sinh ngày 30/6/1999 tại ĐT đến nay chƣa có căn cứ xử lý trong vụ án, Hội đồng xét xử kiến nghị cơ quan điều tra làm rõ.

Trong vụ án Dƣơng Tuấn A khai mua bằng giả, chứng chỉ giả của một số ngƣời không quen biết thông qua mạng Internet rồi bán kiếm lời, đến nay chƣa xác minh đƣợc lai lịch địa chỉ nên chƣa có căn cứ xem xét, xử lý.

Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa xét thấy là phù hợp, đƣợc chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Dƣơng Tuấn A và bị cáo Hoàng Triệu L , phạm tội: “Làm giả tài liệu cơ quan, tổ chức”.

[2] Về hình phạt:

Áp dụng điểm b,c khoản 2 Điều 341; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, Bộ luật hình sự 2015 xử phạt Dƣơng Tuấn A 24 (Hai mƣơi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày Tuấn Ađi thi hành án đƣợc trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/01/2018 đến ngày 27/06/2018.

Áp dụng khoản 1 Điều 341, Điều 35, điểm i,s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Phạt bị cáo Hoàng Triệu L 30.000.000 (Ba mƣơi triệu) đồng.

[3] Hình phạt bổ sung: Áp dụng Điều 35; khoản 4 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015 phạt bổ sung bị cáo Dƣơng Tuấn A 5.000.000đ (Năm triệu đồng) sung ngân sách nhà nƣớc.

[4] Vật chứng: Áp dụng điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015; điểm a, c khoản 2 khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu sung ngân sách nhà nƣớc của Dƣơng Tuấn A số tiền 7.000.000đ (Bảy triệu đồng) và của Hoàng Triệu L số tiền 7.200.000đ (Bẩy triệu hai trăm nghìn đồng).

- Tịch thu sung ngân sách nhà nƣớc 01 (một) điện thoại di động cảm ứng nhãn hiệu Iphone màu vàng Imei 354411068703074 của Dƣơng Tuấn A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung màu vàng đựng trong 01 (một) bì niêm phong đƣợc dán kín, trên bép bì có chữ ký của Điều tra viên Lê Văn Lƣợng- Cơ quan ANĐT Công an tỉnh Thái Nguyên thu của Hoàng Triệu L

- Trả lại cho Hoàng Triệu L: 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu Sony Vaio màu bạc, model PCG-7Z2L, đã qua sử dụng; 01 (một) Giấy chứng minh nhân dân số 091867291 mang tên Hoàng Triệu L; 01 (Một) Giấy phép lái xe mang tên Hoàng Triệu L; 01 (Một) Giấy chứng nhận nghiệp vụ quản lý cơ sở dạy nghề mang tên Hoàng Triệu L; 01 (Một) Giấy chứng nhận ứng dụng công nghệ E-LEARNING trong quản lý cơ sở dạy nghề mang tên Hoàng Triệu L; 01 (Một) Bằng kỹ sƣ Công nghệ Kỹ thuật cơ khí của trƣờng Đại học điện lực Hà Nội mang tên Hoàng Triệu L; 01 (Một) bảng kết quả học tập mang tên Hoàng Triệu L; 01 (Một) Giấy chứng nhận tốt nghiệp kỳ thi của Trung tâm dạy nghề điện tử tin học Thái Nguyên cấp cho Hoàng Triệu L- chứng chỉ tin học; 01 (Một) Giấy chứng nhận tốt nghiệp kỳ thi của Trung tâm dạy nghề điện tử tin học Thái Nguyên cấp cho Hoàng Triệu L-chứng chỉ Tiếng Anh; 01 (Một) Chứng chỉ sƣ phạm dạy nghề trung cấp nghề, Cao đẳng nghề mang tên Hoàng Triệu L; 01 (Một) Chứng chỉ nghiệp vụ sƣ phạm Khoa sƣ phạm- KTTN cấp cho Hoàng Triệu L; 01 (Một) Bằng tốt nghiệp cao đẳng của trƣờng Cao đẳng Công nghiệp Hà Nội cấp cho Hoàng Triệu L; 01 (Một) Giấy chứng nhận tốt nghiệp Đại học của Đại học Điện lực Hà Nội cấp cho Hoàng Triệu L.

-Trả cho Dƣơng Tuấn A 01 Giấy chứng minh nhân dân mang tên Dƣơng Tuấn A.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 túi đựng hồ sơ đề tên Phạm Thị Q; 01 (Một) túi đựng hồ sơ mang tên Ma Khánh H; 01 (Một) Giấy khai sinh bản sao mang tên Lâm Văn Đg; 01 (Một) đơn xin học nghề ngắn hạn của Lâm Văn Đg.

(Hiện vật chứng và số tiền nêu trên đang lƣu giữ tại kho và tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên theo biên bản giao nhận số 373 lập ngày 05/9/2018 và ủy nhiệm chi số 91 lập ngày 21/8/2018).

[6] Về Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Dƣơng Tuấn A, Hoàng Triệu L mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ nhà nƣớc.

[7] Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Các Bị cáo Dƣơng Tuấn A, Hoàng Triệu L có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ