- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Văn Thái - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Bị cáo ĐVT phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 420/2022/HSST Ngày 28/10/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
- Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Duy Chinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu.
2. Ông Triệu Đức Tươi.
- Thư ký phiên toà: Ông Lê Đức Chính, thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Thái Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 28/10/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 404/2022/HSST ngày 06/10/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 410/2022/QĐXXST-HS ngày 18/10/2022 đối với bị cáo:
Họ và tên: ĐVT, sinh ngày 11 tháng 8 năm 1973; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học v n: 06/12; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, Đ thể, chính quyền): Không; Con ông: Đào Xuân Q, đã chết; Con bà: Đỗ Thị H, sinh năm 1950; Gia đình có 07 anh chị em. Bị cáo là con thứ hai; Vợ: Lưu Thị Đ, sinh năm 1976; Có 02 con, con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2001; Tiền án, tiền sự : Không; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/8/2022). (Có mặt tại phiên tòa).
Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị LTĐ, sinh năm 1976, trú tại: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt tại phiên tòa)
Ngƣời chứng kiến: Anh DVT, sinh năm 1984, trú tại: Tổ 7, phường Q, thành phố Thái Nguyên. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Hồi 16 giờ ngày 12/8/2022, tổ công tác của Công an phường Q, thành phố Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 05, phường Q, thành phố Thái Nguyên thì phát hiện một người đàn ông đang điều khiển xe mô tô BKS 20F1-373.65 có biểu hiện nghi v n liên quan đến ma tuý. Tổ công tác áp sát, yêu cầu kiểm tra, người đàn ông khai tên là ĐVT. Qua kiểm tra, T tự giác l y từ túi quần phía sau bên phải đang mặc ra 01 gói gi y màu trắng bên trong chứa ch t bột màu trắng, T khai là ma túy Heroine. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với ĐVT và niêm phong, thu giữ vật chứng theo quy định. Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của Thái 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen đỏ, BKS 20F1-373.65 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung màu xanh.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến hành cân xác định khối lượng số ch t bột màu trắng thu giữ của ĐVT có khối lượng 0,249 gam, cho vào phong bì niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định. Tại Bản kết luận giám định số 1265/KL- KTHS ngày 21/8/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu ch t bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định là ch t ma tuý; loại Heroine; khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,249 gam (BL: 24).
Tại Cơ quan điều tra, ĐVT khai nhận: Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 12/8/2022, T điều khiển xe mô tô BKS 20F1-373.65 đi từ khu vực phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên đến khu vực cầu Mỏ Bạch thuộc phường Q, thành phố Thái Nguyên mục đích để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Tại đây, Tgặp và mua 01 gói ma túy Heroine của một người đàn ông không quen biết với giá 200.000 đồng. Mua xong, T c t gói ma túy trên trong túi quần bên phải phía sau đang mặc rồi điều khiển xe mô tô để tìm nơi sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị tổ công tác Công an phường Q, thành phố Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như trên.
Lời khai nhận của ĐVT phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án gồm: - 02 bì niêm phong ký hiệu lần lượt T1, T2 là mẫu vật hoàn lại sau giám định; - 01 bì niêm phong ký hiệu Đ, bên trong có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu xanh, có số IMEI1: 350765958929824/01, số IMEI2:35088063892298/01; đã qua sử dụng, thu giữ của ĐVT. - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen – đỏ, BKS 20F1-373.65, số khung: 5C6K- 332176, số máy: GY332173, xe đã qua sử dụng. Đăng ký xe mang tên: LTĐ (sinh năm 1976, trú tại: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên là vợ của T). Quá trình điều tra, chị LTĐ khai chiếc xe trên do chị Đ mua từ tiền cá nhân, ngày 12/8/2022, chị Đ cho T mượn xe để đi lại và bị tạm giữ, chị Đ đề nghị được nhận lại chiếc xe. Hiện các vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên.
Bản cáo trạng số 404/CT-VKSNDTPTN ngày 04/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố ĐVT về tội "Tàng trữ trái phép ch t ma túy" theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, trong phần luận tội đối với bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo ĐVT phạm tội Tàng trữ trái phép ma túy. Đề nghị: Áp dụng điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt ĐVT mức án từ 18 đến 21 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định..
Bị cáo phải chịu án phí. Bị cáo, Người liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Trong phần tranh luận: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không tranh luận gì, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là không oan, đúng người, đúng tội;
Bị cáo nói lời sau cùng: Vợ bị cáo bị bệnh xương khớp; Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt đến mức th p nh t để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
1] .Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc kiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
.Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã mô tả, bị cáo xác định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố là đúng người, đúng tội. Xét th y lời nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa là tự nguyện, khách quan, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định, lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến và những chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Hồi 16 giờ 00 phút ngày 12/8/2022, tại khu vực tổ 05, phường Q, thành phố Thái Nguyên, ĐVT có hành vi tàng trữ 0,249gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an phường Q, thành phố Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Đánh giá của Hội đồng xét xử: Bị cáo là người đủ năng lực hành vi trách nhiệm dân sự và biết ma túy là vật c m và được Nhà nước quản lý nhưng vẫn cố tình tàng trữ trái phép ma túy là 0,249 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân. Do vậy hành vi của bị cáo đã đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung điều 249 quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a, ....
...
c, Heroine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam"
Do vậy bị cáo phải chịu hình phạt mà điều luật đã quy định.
Xét tính ch t mức độ của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng ch t gây nghiện, gây m t trật tự trị an ở địa phương và là một trong các nguyên nhân gây ra các tệ nạn xã hội khác..
Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trước khi phạm tội thì bị cáo không có tiền án tiền sự gì, nhưng không biết phát huy bản ch t của người lao động, lại nghiện ma túy và tàng trữ trái phép ch t ma túy.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào..
Từ những nội dung nêu trên Hội đồng xét xử th y cần xử phạt bị cáo mức án từ 18 đến 21 tháng tù như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa hôm nay là phù hợp..
Vật chứng của vụ án: Cần tịch thu tiêu hủy- 02 bì niêm phong ký hiệu lần lượt T1, T2 là mẫu vật hoàn lại sau giám định;
Tạm giữ để đảm bảo thi hành án- 01 bì niêm phong ký hiệu Đ, bên trong có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu xanh, có số IMEI1: 350765958929824/01, số IMEI2:35088063892298/01; đã qua sử dụng, thu giữ của ĐVT.
Hoàn trả cho chị LTĐ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen – đỏ, BKS 20FL-373.65. Đăng ký xe mang tên: LTĐ. (sinh năm 1976, trú tại: Xóm T, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên là vợ của Thái) vì xác định khi Thái l y xe đi chị không biết T sử dụng vào mục đích phạm tội. Do đó cần trả lại cho chị Đ quản lý và sử dụng.
Về các v n đề khác: Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, ĐVT khai mua của một nam thanh niên không rõ lai lịch, địa chỉ tại khu vực gần cầu Mỏ Bạch thuộc tổ 05, phường Q, thành phố Thái Nguyên. Do không xác định được người bán ma tuý cho Thái nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên không có cơ sở điều tra làm rõ, xử lý.
Đối với chị LTĐ là người cho T mượn xe máy Yamaha Sirius màu đen – đỏ, BKS 20FL-373.65 để đi lại và không biết T sử dụng xe của chị vào mục đích phạm tội. Do đó Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý với chị Đ.
Về hình phạt bổ sung và án phí:
- Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính lẽ ra Hội đồng xét xử phạt bổ sung bị cáo. Tuy nhiên bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản và thu nhập nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố:
1. Bị cáo ĐVT phạm tội “Tàng trữ trái phép ch t ma túy”
Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật Hình sự; điểm s, khoản 1, Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự.
2. Xử phạt: ĐVT 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2022.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự. + Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu T2 chứa vỏ bao gói mẫu ban đầu và 01 bì niêm phong ký hiệu T1 chứa 0,239 gam mẫu T1 còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu T1.
+ Tạm giữ để đảm bảo thi hành án: 01 bì niêm phong ký hiệu Đ chứa điện thoại di động thu giữ của ĐVT.
+ Hoàn trả cho chị LTĐ: 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đen – đỏ, BKS 20F1-373.65, số máy: 5C6K- 332176, số khung: C6K0GY332173, dung tích xi lanh: 110; xe đã qua sử dụng.
(Hiện được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên theo tình trạng biên bản giao nhận vật chứng 18 ngày 14/10/2022).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo ĐVT phải nộp 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm vào ngân sách nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TN; - VKSND tỉnh TN; - VKSND thành phố TN; - Công an thành phố TN; - Chi cục THADSTPTN; - Sở tư pháp tỉnh Thái Nguyên; - Bị cáo; NLQ.. - Lưu HS; lưu BP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Duy Chinh |