vanban.org

Bản án 42

TAND tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 06/03/2019 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 06/03/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Đỗ Xuân T phạm tội Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác (điều 104 Bộ luật hình…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
toµ ¸n nh©n d©n
tØnh thanh ho¸

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

B¶n ¸n sè: 83/2018/HSST
Ngµy 20- 11- 2018

nƯíc céng hoµ x(cid:16) héi chñ nghÜa viÖt nam

toµ ¸n nh©n d©n tØnh thanh ho¸

Víi thµnh phÇn Héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:

ThÈm ph¸n- Chñ to¹ phiªn toµ: Ông Trương Quốc Văn;

Thẩm phán: Bà Lê Thị Dung;

C¸c Héi thÈm nh©n d©n: Bà Nguyễn Thị Oanh;

Ông Nguyễn Thanh Long;

Ông Hoàng Mạnh Cường- Cán bộ Đoàn cơ quan cấp tỉnh.

Thư ký ghi biªn b¶n phiªn toµ: Bµ Đỗ Kim Oanh- Thư ký Toµ ¸n nh©n

d©n tØnh Thanh Ho¸.

§¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n tØnh Thanh Ho¸ tham gia phiªn toµ:

¤ng Nguyễn Văn Nguyên- KiÓm s¸t viªn.

Ngµy 20 th¸ng 11 n¨m 2018, t¹i trô së Toµ ¸n nh©n d©n tØnh Thanh Ho¸ xÐt

xö s¬ thÈm vô ¸n h×nh sù thô lý sè 69/2018/TL- HSST ngày 03- 10- 2018 ®èi víi bÞ c¸o:

Họ và tên: Lê Văn T; Giới tính: Nam; Sinh ngày 25 tháng 9 năm 2001; Tại:

huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa ( Khi phạm tội bị cáo 16 tuổi 09 tháng 04 ngày); Nơi cư trú: Thôn T, xã T, TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do.

Họ và tên cha: Lê Văn T2, sinh năm: 1960;

Họ và tên mẹ: Hoàng Thị M, sinh năm: 1962;

Đều trú tại: Thôn T, xã T, TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

Gia đình có 2 anh em, bị can là con thứ hai; Chưa có vợ, con; Tiền án, tiền

sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 30/6/2018 đến ngày 03/7/2018 chuyển tạm giam đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Người đại diện của bị cáo: Ông Lê Văn T2, (Bố bị cáo) sinh năm 1960;

Trú tại: Thôn T, xã T, TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa, có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Trần Đại X- Công ty Luật A, Đoàn

luật sư tỉnh Thanh Hóa, có mặt.

Ngưêi bÞ h¹i: Anh Hồ Văn Đ, sinh năm 1995 ( Đã chết);

Tró t¹i: Khu phố S, thị trấn T, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa.

Đại diện hợp pháp của bị hại:

1. ¤ng Hồ Văn S, sinh n¨m 1973 (Bè bị hại), có mặt.

2. Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1972 (Mẹ bị hại), có mặt.

Đều trú t¹i: Khu phố S, thị trấn T, huyện Đông Sơn, Thanh Hóa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn T2,(Bố bị cáo) sinh

năm 1960, có mặt;

Trú tại: Thôn T, xã T, TP. Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.

nhËn thÊy

Theo cáo trạng của ViÖn kiÓm s¸t, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22h30’ ngày 29/6/2018, Lê Văn T cùng các anh Nguyễn Văn T3

và Lê Văn D (là người cùng thôn) rủ nhau đi ăn đêm tại quán Q ở thôn L, xã T, TP. Thanh Hóa. Khi vào trong quán, Lê Văn Tnhìn thấy anh Hồ Văn Đ đang ngồi ăn cùng với anh Đỗ Văn H và anh Phạm Văn P. Do trước đó khoảng một tháng, giữa Thanh và anh Đ xảy ra mâu thuẫn va chạm trong lúc đá bóng, khi thấy anh Đ nhìn mình thì T bảo anh D và anh T3 đi sang quán khác.

Trên đường đến quán khác, T nghĩ đến mâu thuẫn chưa được giải quyết và

cho rằng anh Đ có hành động lườm mình, T bảo anh D, anh T3v ào trong quán uống bia trước. T đứng ngoài đường bắt xe taxi về nhà lấy một con dao nhọn có một lưỡi sắc dài 33 cm, giấu vào trong người rồi tiếp tục đi xe taxi đến quán Q để tìm gặp anh Đ. Khi đến nơi, thấy anh Đ vẫn đang ngồi ăn tại đây, T liền xông đến vung dao bằng tay phải chém về phía người anh Đ, thì anh Đ giơ tay lên đỡ rồi bỏ chạy theo hướng về xã Đ. Thanh cầm dao đuổi theo khoảng 160 m thì kịp anh Đ ở vị trí trên đường ngay trước cổng nhà anh Nguyễn Đình D thuộc xóm Lê, xã T, TP. Thanh Hóa. T vung dao bằng tay phải chém nhiều nhát thì anh Đ giơ tay trái lên đỡ, bị các nhát chém trúng vào tay. Lúc này T hỏi anh Đ: “Thằng đó có phải em ruột mi không mà mi cầm dao lùa tau” - Ý T muốn nhắc đến mâu thuẫn trước kia của T và anh Đ. Nghe anh Đ trả lời: “ Không phải” , Th bực tức cầm dao bằng tay phải hướng mũi xuống dưới và vung dao đâm một nhát vào ngực anh Đ theo chiều từ trên xuống, chếch chéo từ phải qua trái, ở tư thế đứng đối diện cách nhau khoảng 80 - 90cm, rồi T rút dao ra khỏi ngực anh Đ. Anh Đ bị đâm nhưng vẫn chạy được vào trong khu vực phòng khách của nhà anh D. Lúc này anh Nguyễn Đình D can ngăn nên Thanh không đánh anh Đ thêm được nữa, bỏ chạy thoát khỏi hiện trường. Anh Hồ Văn Đ được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa huyện Đông Sơn và sau đó chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa, do vết thương quá nặng nên anh Đ đã tử vong.

Đến 02 giờ 20’ ngày 30/6/2018, Lê Văn T đến Cơ quan Công an xin đầu

thú, khai báo hành vi phạm tội của mình và giao nộp con dao gây án.

Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện:

Hiện trường vụ án được xác định tại xóm L và xóm L1 thuộc xã T, thành

phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Xóm L và xóm L1 nằm tại khu vực đường đi xã Đ đến ngã ba Cầu Trầu. Hiện trường xảy ra sự việc tại nhà chị Đàm Thị L và nhà chị Thành L.

Nhà chị Đàm Thị L có mặt tiền quay hướng Nam, tiếp giáp với đường đi

xã Đ. Phía Tây giáp nhà anh Đ phía Đông giáp nhà anh L. Nhà chị L có cửa ra vào bằng cửa sắt mở vào phía trong. Gian bán bình bên ngoài lợp bằng tôn, phía trong là phòng khách, phòng ngủ lợp mái bằng. Ngay phía trước nhà chị L trên mặt đường phát hiện các dấu vết màu nâu đỏ (nghi máu) dạng nhỏ giọt theo chiều từ Đông Bắc - Tây Nam dài khoảng 24m. Hệ thống các vết màu nâu đỏ (nghi máu) đầu vết cách cột điện ký hiệu 3A về phía Nam là 4,9m. Bên trong nhà chị L phòng khách có kê một bộ bàn ghế gỗ dọc theo hướng Nam - Bắc: Gồm một ghế dài kê sát tường phía Tây, một bàn gỗ mặt kính, hai ghế đơn. Hiện tại trên mặt kính (mặt bàn) có vết màu nâu đỏ (nghi máu) KT(1 x 0,5)cm tại tường phía Tây trên mặt tường có các vết màu nâu đỏ (nghi máu) dạng máu bắn trong diện (4,5 x 19)cm, chiều hướng vết từ trên xuống dưới, phần dưới vết cách chân tường 63cm, cách tường phía Bắc 97cm.

Mở rộng hiện trường, từ nhà chị L về phía Đông (hướng ra ngã ba cầu

Trầu) khoảng 160m là nhà chị L. Ngôi nhà có mặt tiền quay hướng Nam. Phía Tây giáp nhà anh H, phía Đông giáp nhà Q, phía Nam là đường đi xã Đ và nhà anh O. Từ nhà L đến ngã ba Cầu Trầu là 18m. Tại phía trước nhà TL trên vỉa hè có kê một bàn gỗ đơn, phía dưới gầm ghế phát hiện một vỏ bao vải màu đen KT (33 x 7,5)cm, vỏ bao vải màu đen cách mép đường (mép vỉa hè phía trước nhà TL) là 140cm.

Kết quả khám nghiệm tử thi anh Hồ Văn Đ, vào hồi 03h10’ ngày

30/6/2018 tại nhà xác Bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa.

Tử thi có chiều dài 1,7 m, thể tạng trung bình và đang trong thời kỳ co cứng.

Phía trên mặc áo phông cộc tay màu đỏ đen, dưới mặc quần đùi màu nâu đen. Hiện tại áo phông đã bị cắt rời phần thân trước (cắt trong quá trình cấp cứu nạn nhân); áo và quần bám dính, ngấm nhiều máu. Tại phần thân áo trước bên trái vị trí ngực áo có vết rách vải dài 3,7cm, bờ mép vết gọn. Tại phần thân áo sau vùng lưng trái có 02 (hai) vết rách vải áo sát nhau, đều lần lượt là 2,3 cm và 0,6cm, bờ mép hai vết gọn.

Các dấu vết tổn thương trên cơ thể:

- Vùng đầu có tóc che phủ, vùng mặt, vùng cổ không thấy dấu vết tổn

thương.

- Vết rách da, cơ dạng hình bầu dục KT (4,8 x 2,3)cm cách 3,5cm trong

núm vú trái, chiều hướng vết từ trên xuống dưới, bờ mép vết gọn, sắc. Tại sát bên trái mép dưới của vết, có vết rách da không rõ hình KT (0,8 x 0,6)cm, chiều hướng vết từ trên xuống dưới, bờ mép vết sắc, gọn.

- Vết rách da không rõ hình KT(6,5 x 2,5)cm, tại mặt sau ngoài 1/3 dưới

cánh tay trái, chiều hướng vết từ sau về trước, từ trái qua phải, bờ mép vết sắc, gọn. Ngay sát phần cuối vết, tại mặt ngoài 1/3 dưới cánh tay trái có 03 đường xước da nhỏ theo chiều từ sau về trước, từ trái qua phải, các đường xước có bề rộng 0,1cm.

- Vết rách da, cơ không rõ hình KT (6 x 3)cm tại mặt trước trong 1/3 dưới

cẳng tay trái, chiều hướng vết từ trên xuống dưới, bờ mép vết sắc, gọn.

- Vết rách da, cơ không rõ hình KT (7 x 1,5)cm tại mặt ngoài sau 1/3 dưới

cẳng tay trái, chiều hướng vết từ sau về trước, từ trên xuống dưới bờ mép vết sắc, gọn. Tại cuối vết có vết rách da không rõ hình KT (4 x 0,6) cm, chiều hướng vết từ trước về sau, từ dưới lên trên, bờ mép vết sắc, gọn.

- 04 (bốn) vết rách da nhẹ không rõ hình nằm cạnh nhau, song song với

nhau tại mặt trước ngoài 1/3 trên cẳng tay trái, chiều hướng các vết từ trái qua phải, các vết nằm trong diện (5 x 1,5)cm, trong đó vết lớn nhất KT(1,7 x 0,15)cm, vết nhỏ nhất có KT(0,7 x 0,1)cm.

- 06 (sáu) vết rách da nhẹ song song nằm sát nhau trong diện (7,5 x

2,5)cm tại mặt trước trong 1/3 dưới cẳng tay trái, chiều hướng các vết từ trên xuống dưới, từ phải qua trái, vết lớn nhất KT (2,5 x 0,15)cm; vết nhỏ nhất KT (0,5 x 0,1) cm.

- 02 (hai) vết rách da nhẹ nằm chéo nhau tại vùng lưng trái, vết thứ nhất

KT (8,5 x 0,3)cm có chiều hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái, vết thứ hai có KT (6,5 x 0,3)cm có chiều hướng từ dưới lên trên, chếch từ phải qua trái.

- Mặt trên vai trái, mặt trên vai phải, lòng bàn tay phải, mặt trước 1/3 trên

cẳng chân phải và mu bàn chân phải có các vết xây xước da không rõ hình đã đóng vảy màu nâu đen (vết cũ).

Mổ tử thi:

- Rạch da đầu: Tổ chức da đầu không có tổn thương. Cơ thái dương hai bên

màu sắc đồng nhất không có tổn thương. Xương hộp sọ trắng đều, các đường khớp liền kín không có tổn thương.

- Mở hộp sọ: Màng cứng không bị rách. Tổ chức não không bị tổn thương.

- Rạch da cổ, ngực, bụng: Tổ chức dưới da vùng khoang liên sườn 4,5 bên

trái bị rách, đứt, tụ máu. Đứt đầu trong sụn sườn 5,6 bên trái, sát xương ức.

Khoang ngực, ổ bụng có khoảng 2,5 lít máu đông lẫn máu loãng. Khoang

ngoài tim bị rách. Đứt một phần cơ tim vùng mỏm tim KT(2,6x1,2)cm. Hai phổi nhợt nhạt và xẹp. Rãnh thương từ khoang liên sườn 4,5 bên trái làm đứt sụn sườn 5,6 bên trái, xuyên vào lồng ngực, xuyên qua khoang màng tim, xuyên rách mỏm tim, xuyên qua cơ hoành, xuyên qua thùy gan trái, kích thước vết rách mặt trước thùy gan trái (3,7x0,6)cm, kích thước vết rách mặt sau thùy gan trái (2,2x0,5)cm. Rãnh thương đi vào vùng mạc nối nhỏ gây tụ máu mạc nối nhỏ.

Lách không bị tổn thương. Dạ dày có nhiều thức ăn đang nhuyễn. Niêm

mạc dạ dày không có tổn thương.

Ngoài ra các nội tạng khác trong ổ bụng không thấy có tổn thương.

Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 1315/GĐPY-PC54 ngày 02/7/2018

của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận nguyên nhân chết của anh Hồ Văn Đ là: “Sốc mất máu do vết thương đứt cơ tim, xuyên thấu gan trái”.

Cơ quan điều tra thu giữ vật chứng của vụ án gồm:

- 01 (một) con dao (dạng dao nhọn) dài 33cm, phần lưỡi và cán đều có màu

đen, lưỡi dao dài 21cm, có một lưỡi sắc, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 4,5cm, lưỡi dao có khắc dòng chữ KNIVES, cán dao bọc cao su màu đen.

- 01 (một) vỏ bao vải màu đen KT (33x7,5)cm.

Kết quả giám định ADN đối với dấu vết máu thu được tại hiện trường, máu của

nạn nhân và dấu vết trên con dao thể hiện:

- Dấu vết màu nâu đỏ (nghi máu) thu được tại hiện trường là máu của nạn

nhân Hồ Văn Đ và trên con dao nhọn ghi thu trong vụ án gửi giám định có dấu vết máu của Hồ Văn Đ.

Gia đình bị cáo đã giao tiền cho gia đình bị hại hai lần tổng số là

200.000.000 đồng. Hai bên thống nhất việc bồi thường chi phí và tổn thất tinh thần đã giải quyết xong, không có ý kiến, đề nghị gì nữa.

C¸o tr¹ng sè 41/CT- VKS- P2 ngµy 02/10/2018 cña ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n

tØnh Thanh Ho¸ truy tè Lê Văn T về téi "GiÕt ngưêi" theo điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS. T¹i phiªn toµ, §¹i diÖn VKS giữ nguyên quyết định truy tố, ®Ò nghÞ Hội đồng xét xử ¸p dông điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS, điểm b và điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 90, khoản 1 và khoản 6 Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự, đề nghị xö ph¹t Lê Văn Thanh từ 14 đến 15 năm tù.

Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với luận tội của đại

diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xem xét các tình tiết bÞ c¸o thµnh khÈn khai b¸o, ¨n n¨n hèi c¶i, sau khi ph¹m téi ®L ®Õn C«ng an ®Çu thó, khi phạm tội là người chưa đủ 18 tuổi, đã cùng với gia ®×nh båi thêng xong cho gia đình bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b và điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 90, khoản 1 và khoản 6 Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ, xử lý đối với bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Trong quá trình điều tra, truy tố, các quyết định tố tụng và hành vi tố

tụng của cơ quan Cảnh sát điều tra, của Điều tra viên, Kiểm sát viên và Luật sư bào chữa cho bị cáo thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

. Tại phiên tòa, Bị cáo Lê Văn T khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với

lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do mâu thuẫn giữa T và anh Đ trước đó, khi gặp anh Đ vào khoảng 22h30’ ngày 29/6/2018 ở quán Q, T đã nảy sinh ý đồ đánh trả thù giải quyết mâu thuẫn. T về nhà lấy một con dao nhọn dài 33 cm, quay lại quán và lập tức xông vào chém anh Đ. Mặc dù anh Đ đã bỏ chạy được một quãng xa, nhưng T vẫn cố đuổi theo chém nhiều nhát, cuối cùng là dùng dao đâm trúng vào ngực anh Đ. Dù được mọi người đưa đi cấp cứu ngay lúc ấy, nhưng anh Đ đã tử vong tại bệnh viện đa khoa tỉnh Thanh Hóa. Tại bản kết luận giám định pháp y tử thi số 1315/GĐPY-PC54 ngày 02/7/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, anh Đ bị nhiều vết thương phần mềm ở tay trái và một vết thương sâu ở ngực trái. Cụ thể vết ở ngực trái có rãnh thương từ khoang liên sườn 4,5 bên trái làm đứt sụn sườn 5,6 bên trái, xuyên vào lồng ngực, xuyên qua khoang màng tim, xuyên rách mỏm tim, xuyên qua cơ hoành, xuyên qua thùy gan trái, kích thước vết rách mặt trước thùy gan trái (3,7x0,6)cm, kích thước vết rách mặt sau thùy gan trái (2,2x0,5)cm. Rãnh thương đi vào vùng mạc nối nhỏ gây tụ máu mạc nối nhỏ. Qua khám nghiệm đã kết luận nguyên nhân chết của anh Hồ Văn Đ là: “Sốc mất máu do vết thương đứt cơ tim, xuyên thấu gan trái”. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định hành vi của Lê Văn T dùng dao đâm vào ngực trái gây nên vết thương trầm trọng, sốc mất máu đã dẫn đến cái chết của anh Đ.

. Bị cáo T có đủ năng lực nhận thức được hành vi dùng hung khí là dao nhọn

đâm thủng ngực người khác có thể sẽ tước đi tính mạng của họ, nhưng T đã lạnh lùng ra tay và hậu quả là anh Đ đã tử vong. Hành vi của Lê Văn T xâm phạm tính mạng của người khác có tính chất côn đồ nên phạm vào tội “GiÕt người” thuộc trường hợp quy ®Þnh t¹i điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS.

. Quyết định và quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân về truy tố và xử

lý đối với bị cáo Thanh là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

. Đề nghị của Luật sư xem xét các tình tiết bị cáo khai báo thành khẩn,

đầu thú, khi phạm tội đang là vị thành niên, đã cùng gia đỉnh tích cực bồi thường để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là đúng với qui định, được chấp nhận xem xét với mức độ phù hợp.

. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Giữa bị cáo và bị

hại tuy trước đấy có xảy ra va trạm nhỏ nhặt đã lâu, khi gặp lại nhau không có xích mích gì mới nhưng bị cáo Thanh đã thù hận nặng nề, giải quyết mâu thuẫn với anh Đ theo kiểu giang hồ. Trong khi bị hại không đề phòng, không có sự chống trả, Thanh đã bất ngờ dùng dao tấn công đến cùng, hành động quyết liệt tước đi tính mạng của anh Đ một cách rất nhẫn T2. Hành vi phạm tội của bị cáo Thanh là đặc biệt nghiêm trọng, thể hiện sự liều lĩnh hung tợn, coi thường tính mạng của người khác, bất chấp pháp luật, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, cần phải xử lý nghiêm khắc để cải tạo đối với bị cáo, đồng thời để răn đe và phòng ngừa chung.

. Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

Về tình tiết tăng nặng, bị cáo đã quyết liệt thực hiện hành vi và phạm tội

đến cùng, nên bị áp dụng điểm e khoản 1 Điều 52 BLHS. về tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ, quá trình ®iÒu tra còng như t¹i phiªn tßa bÞ c¸o thµnh

khÈn khai b¸o, sau khi ph¹m téi ®L ®Õn C«ng an ®Çu thó, khi phạm tội là người chưa đủ 18 tuổi nên suy nghĩ có phần chưa chín chắn. Gia đình và bị cáo cũng đã tích cực bồi thường và giải quyết xong phần dân sự với gia đình bị hại. Vì vậy, áp dụng quy định tại điểm b và s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 90, khoản 1 và 6 Điều 91, khoản 1 Điều 101 của BLHS. để xử lý, giảm nhẹ.

. Qua vụ án cũng cho thấy gia đình bị cáo chưa thể hiện đầy đủ trách

nhiệm đối với con đang là vị thành niên, coi nhẹ việc đánh giá tính cách để giáo dục cho bị cáo có nhận thức đúng đắn, sống có tình người. Gia đình cũng buông lỏng quản lý không phát hiện được con mình có tàng trữ hung khí nguy hiểm, đêm khuya đi chơi tự do. Bản thân bị cáo Thanh đang chuẩn bị bước và tuổi trưởng thành nhưng không có chí hướng lành mạnh, cố chấp nhỏ nhen, sẵn sàng sử dụng bạo lực trong quan hệ, không tôn trọng đạo lý và kỷ cương xã hội. Những yếu tố ấy là nguyên nhân dẫn đến suy nghĩ lệch lạc và hành động nguy hiểm của bị báo.

. VÒ tr¸ch nhiÖm d©n sù: Gia đình bị cáo đã giao cho gia đình bị hại tổng

số tiền 200.000.000 đồng, hai bên đã tự giải quyết xong phần bồi thường, đại diện bị hại không yêu cầu gì nữa. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận sự thỏa thuận của các bên.

. VÒ vËt chøng trong vụ án gồm: 01 con dao (dạng dao nhọn, 01 (một) vỏ

bao vải màu đen (33x7,5) cm là công cụ phạm tội, kh«ng cã gi¸ trÞ sö dông nªn tÞch thu tiªu huû.

. VÒ ¸n phÝ: BÞ c¸o ph¶i chịu ¸n phÝ hình sự sơ thẩm theo quy ®Þnh cña

ph¸p luËt.

V× c¸c lÏ trªn;

quyÕt ®Þnh

Tuyªn bè: Lê Văn T ph¹m téi: "GiÕt ngưêi" .

¸p dông điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b và điểm s khoản 1 Điều 51, điểm e

khoản 1 Điều 52, Điều 90, khoản 1 và khoản 6 Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự;

Xö ph¹t bị cáo Lê Văn T 16 (Mười sáu) n¨m tï. Thêi h¹n chÊp hµnh h×nh

ph¹t tï tÝnh tõ khi tạm giữ ngµy 30/6/2018.

Về tr¸ch nhiÖm d©n sù: Chấp nhận sự thỏa thuận của hai gia đình bị hại và

bị cáo về mức bồi thường chi phí và bù đắp tổn thất tinh thần tính chung là 200.000.000 (Hai trăm triệu) đồng, đã giao nhận đủ cho nhau.

Về xö lý vËt chøng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a

và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

TÞch thu công cụ phạm tội của Lê Văn Tđể tiªu hñy gồm:

- 01 (một) con dao (dạng dao nhọn) dài 33cm, phần lưỡi và cán đều có màu

đen, lưỡi dao dài 21cm, có một lưỡi sắc, chỗ rộng nhất của lưỡi dao là 4,5cm, lưỡi dao có khắc dòng chữ KNIVES, cán dao bọc cao su màu đen;

- 01 (một) vỏ bao vải màu đen KT (33x7,5)cm;

Tang vật ®ang t¹m gi÷ t¹i Côc Thi hµnh ¸n d©n sù tØnh Thanh Hãa, theo

Biªn b¶n giao nhËn vËt chøng sè TV/2019/01 ngµy 03/10/2018 gi÷a Phßng PC 02 C«ng an tØnh Thanh Hãa vµ Côc Thi hµnh ¸n d©n sù tØnh Thanh Hãa.

VÒ ¸n phÝ: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản

1 Điều 23, điểm b khoản 1 Điều 24 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc Lê Văn T ph¶i chịu ¸n phÝ HSST. 200.000®ồng.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, đại diện của bị cáo, luật sư bào

chữa, đại diện của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. BÞ c¸o, đại diện của bị cáo, luật sư bào chữa, đ¹i diÖn hîp ph¸p cho người bÞ h¹i, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cã quyÒn kh¸ng c¸o bản án trong h¹n 15 ngµy, kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n.

N¬i nhËn:

Cỡ chữ