vanban.org

Bản án 42/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đào Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Đào Ngọc T 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án. Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Đào Ngọc T hành nghề lái các loại xe ô tô trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đào Ngọc T - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đào Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 – HẢI PHÒNG
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2026/HS-ST
Ngày 16 – 6 – 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 – HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thu Thảo và bà Đàm Thị Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Nguyễn Ngọc Anh – Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Đắc Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2026/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2026/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2026 đối với bị cáo:

Đào Ngọc T, sinh ngày 25 tháng 8 năm 1985 tại tỉnh Bắc Ninh; nơi cư trú: Tổ dân phố S, phường T, tỉnh Bắc Ninh; căn cước công dân số: 024085016152; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Ngọc T1 và bà Nguyễn Thị T2; Bị cáo có vợ là Phạm Thị T3 và có 01 con;

Tiền sự: Không;

Tiền án: Bị cáo có 01 tiền án chưa được xoá án tích; Ngày 11/8/2023 Đào Ngọc T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Bản án hình sự sơ thẩm số 91/2023/HS-ST ngày 01/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh Bắc Giang xử phạt T 20 tháng tù về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. T chấp hành xong án phạt tù ngày 24/01/2025. Chưa được xoá án tích.

Nhân thân: Bản án hình sự phúc thẩm số 179/2011/HSPT ngày 22/9/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt Đào Ngọc T 07 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội: Đánh bạc, thời gian thử thách 13 tháng 12 ngày. T đã chấp hành xong bản án, đã được xoá án tích.

Bị cáo tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

+ Anh Vương Tuấn A, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Khu N, xã N, thành phố Hải Phòng.

+ Anh Hoàng Đức Thịnh A1, sinh năm 1996.

Địa chỉ: Khu N, xã N, thành phố Hải Phòng.

+ Công ty TNHH G.

Địa chỉ trụ sở: Số B, lô E, khu tái định cư V, phường H, thành phố Hải Phòng.

Người đại diện theo pháp luật: Anh Đinh Viết T4, sinh năm 1977 – Chức vụ: Giám đốc.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hà Đình M, sinh năm 1983.

Địa chỉ: Thôn C, xã A, thành phố Hải Phòng.

Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa và đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đào Ngọc T có giấy phép lái xe hạng C, số 240118245676 do Sở giao thông vận tải tỉnh Bắc Ninh (cũ) cấp ngày 07/5/2021, có giá trị đến ngày 07/5/2026. Khoảng 17 giờ ngày 06/10/2025, T điều khiển xe ô tô biển kiểm soát (BKS): 98H-070.27 (xe của Công ty cổ phần T5) đi từ cảng Đ, thành phố Hải Phòng về trụ sở Công ty tại địa chỉ: tổ dân phố S, phường T, tỉnh Bắc Ninh. Khoảng 18 giờ cùng ngày, T điều khiển xe ô tô đi trên Quốc lộ C theo hướng Quốc lộ E đi cầu B, khi đến Km số 67+880 Quốc lộ C thuộc thôn M, xã N, thành phố Hải Phòng (đoạn đường gần cây xăng thuộc thôn M), đây là đoạn đường thẳng được trải nhựa bằng phẳng, mặt đường rộng 10m, được chia thành hai chiều xe chạy riêng biệt, phân chia giữa hai chiều đường là vạch sơn đứt đoạn màu vàng, trên mặt đường có hệ thống gờ giảm tốc sơn màu vàng. Thời điểm này trời tối tầm nhìn bị hạn chế, thời tiết mưa nhỏ, đường trơn ướt, phía trước xe do T điều khiển có nhiều phương tiện đang rà phanh giảm tốc độ, đi chậm. Tuy nhiên, lúc này do buồn ngủ, T đã ngủ gật trong khi vẫn đang điều khiển xe lưu thông trên đường nên đã không chú ý quan sát phía trước, không giữ khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước cùng làn đường, nên phần đầu xe ô tô do T điều khiển đã va chạm mạnh vào phía sau xe ô tô 05 chỗ màu đen, nhãn hiệu TOYOTA, loại xe CROSS, BKS: 34A-927.19 do anh Vương Tuấn A, sinh năm 1980, trú tại khu N, xã N, thành phố Hải Phòng điều khiển đi phía trước cùng chiều. Sau va chạm, xe ô tô do T điều khiển tiếp tục đẩy xe ô tô BKS: 34A-927.19 lao về phía trước va chạm vào phía sau xe ô tô 05 chỗ màu trắng, nhãn hiệu MAZDA, loại xe MAZDA 3, BKS: 34A-687.78 do anh Hoàng Đức Thịnh A1, sinh năm 1996, trú tại thôn N, xã N, thành phố Hải Phòng điều khiển đi phía trước cùng chiều, làm xe ô tô BKS: 34A-687.78 bị đẩy về phía trước va chạm vào phía sau sơ mi rơ-moóc BKS:15R-150.02 được kéo bởi xe ô tô đầu kéo BKS: 15C-361.43 do anh Hà Đình M, sinh năm 1983, trú tại thôn C, xã A, thành phố Hải Phòng điều khiển đi phía trước cùng chiều. Sau khi xảy ra va chạm đã làm cả 04 phương tiện bị dồn ép liên hoàn. Hậu quả, xe ô tô BKS: 34A-927.19, xe ô tô BKS: 34A-687.78 và sơ mi rơ-moóc BKS: 15R-150.02 bị hư hỏng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện: Hiện trường vụ tai nạn giao thông là đoạn đường Quốc lộ 37 thuộc khu vực gần cây xăng thôn M, xã N, thành phố Hải Phòng. Đây là đoạn đường thẳng, mặt đường được trải bê tông nhựa tương đối bằng phẳng, lòng đường rộng 10m, được tổ chức giao thông hai chiều, giữa tim đường có vạch sơn nét đứt màu vàng, hai bên đường có hệ thống cọc tiêu, đèn chiếu sáng, vỉa hè và nhà dân, trên mặt đường có hệ thống gờ giảm tốc sơn màu vàng. Tại thời điểm khám nghiệm, trên mặt đường không có chướng ngại vật hoặc vật cản che khuất tầm nhìn của người tham gia giao thông. Thống nhất lấy cột mốc H7/67 và mép đường bên phải theo hướng Quốc lộ E đi cầu B làm điểm mốc và mép chuẩn để xác định chiều hướng, vị trí các phương tiện và dấu vết trên hiện trường. Từ điểm mốc đo cách 175m về hướng cầu B là vị trí tâm trục sau bên phải của xe ô tô BKS: 98H-070.27. Xe ô tô này đang đỗ trên lòng đường, đầu xe quay hướng cầu B, đuôi xe quay hướng Quốc lộ E, tâm trục sau bên phải cách mép đường chuẩn 2,4m, tâm trục trước bên phải cách mép đường chuẩn 2,7m. Từ tâm trục trước bên phải xe ô tô BKS: 98H-070.27 đo 1,2m về hướng cầu B là tâm vết mảnh vỡ nhựa kích thước (3,1 x 2,3)m, tâm vết cách mép đường chuẩn 4,3m. Từ tâm trục trước bên phải xe ô tô BKS: 98H-070.27 đo 3,4m về hướng cầu B là vị trí tâm trục bánh sau bên phải xe ô tô BKS: 34A-927.19. Xe này đang đỗ trên mặt đường, đầu xe quay hướng cầu B, đuôi xe quay hướng Quốc lộ E, tâm trục bánh xe phía sau và phía trước bên phải lần lượt cách mép đường chuẩn 3,7m và 4,3m. Từ tâm trục trước bên phải xe ô tô BKS: 34A-927.19 đo 1,6m về hướng cầu B là vị trí tâm trục bánh sau bên phải xe ô tô BKS: 34A-687.78. Xe ô tô này cũng đang đỗ trên mặt đường, đầu xe quay hướng cầu B, đuôi xe quay hướng Quốc lộ E, tâm trục bánh xe phía sau và phía trước bên phải lần lượt cách mép đường chuẩn 3,5m và 3m. Từ tâm trục trước bên phải xe ô tô BKS: 34A-687.78 đo 1,8m về hướng cầu B là tâm vết mảnh vỡ nhựa kích thước (2,1 x 1,4)m, tâm vết cách mép đường chuẩn 3,4m. Từ tâm trục trước bên phải xe ô tô BKS: 34A-687.78 đo 5,4m về hướng cầu B là vị trí tâm trục bánh sau cùng bên phải hàng số 6 của sơ mi rơ-moóc BKS: 15R-150.02 được kéo bởi xe ô tô đầu kéo BKS: 15C-361.43. Tổ hợp xe đầu kéo và sơ mi rơ-moóc đang đỗ trên mặt đường, đầu xe quay hướng cầu B, đuôi xe quay hướng Quốc lộ E, các tâm trục bánh xe bên phải của sơ mi rơ-moóc ở hàng số 6, hàng số 3 và hàng số 1 lần lượt cách mép đường chuẩn 2,1m; 2,6m và 3,2m.

Vị trí dừng đỗ của các phương tiện sau tai nạn theo thứ tự từ sau về trước lần lượt là xe ô tô BKS: 98H-070.27, xe ô tô BKS: 34A-927.19, xe ô tô BKS: 34A-687.78 và sơ mi rơ-moóc BKS: 15R-150.02, các phương tiện đều nằm trên phần đường bên phải theo chiều Quốc lộ E đi cầu B. Các vết mảnh vỡ nhựa phân bố tại khu vực giữa các xe, cùng với vị trí dừng của từng phương tiện, phù hợp với diễn biến va chạm liên hoàn theo cơ chế: Xe ô tô BKS: 98H-070.27 va chạm vào phía sau xe ô tô: BKS:34A-927.19, đẩy xe này va chạm vào phía sau xe ô tô BKS: 34A-687.78, rồi tiếp tục đẩy xe ô tô BKS: 34A-687.78 va chạm vào phía sau sơ mi rơ-moóc BKS: 15R-150.02.

Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố Hải Phòng đã tiến hành kiểm tra nồng độ cồn, xét nghiệm ma tuý đối với Đào Ngọc T, Vương Tuấn A, Hoàng Đức Thịnh A1, Hà Đình M kết quả nồng độ cồn 0.000mg/L, kết quả xét nghiệm ma tuý âm tính.

Tại Bản kết luận giám định số 4163/KL-KTHS ngày 26/12/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận:

Dấu vết va chạm giữa xe ô tô tải biển kiểm soát 98H-070.27 và xe ô tô biển kiểm soát 34A-927.19: Dấu vết trượt xước sơn, vỡ nhựa, làm móp méo kim loại, rải rác bám dính tạp chất màu đen (dạng sơn) ở khu vực phía trước đầu xe ô tô tải biển kiểm soát 98H-070.27, gồm nắp ca-pô, ốp nhựa bảo vệ lưới tản nhiệt, cản trước, tai xe và cụm đèn chiếu sáng, có chiều từ trước về sau, phù hợp với dấu vết trượt xước sơn, vỡ nhựa, làm móp méo kim loại, rải rác bám dính tạp chất màu trắng (dạng sơn) ở khu vực phía sau xe ô tô biển kiểm soát 34A-927.19, gồm kính chắn gió bị vỡ hoàn toàn, thành nóc xe, nắp cốp xe, cản sau, tai xe và cụm đèn hậu 02 bên, có chiều từ sau về trước;

Dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 34A-927.19 và xe ô tô biển kiểm soát 34A-687.78: Dấu vết trượt xước sơn, vỡ nhựa, làm móp méo kim loại, bám dính tạp chất màu trắng (dạng sơn) ở khu vực phía trước đầu xe ô tô biển kiểm soát 34A-927.19, gồm nắp ca-pô, mặt ca-lăng, cản trước, có chiều từ trước về sau, phù hợp với dấu vết trượt xước sơn, làm móp méo kim loại, bám dính tạp chất màu đen (dạng sơn) ở khu vực phía sau xe ô tô biển kiểm soát 34A-687.78, gồm nắp cốp xe, cản sau, có chiều từ sau về trước.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTS ngày 28/01/2026 của Hội đồng định giá tài sản UBND xã N kết luận: Tại thời điểm định giá ngày 06/10/2025, giá trị thiệt hại, hư hỏng của xe ô tô biển kiểm soát 34A-927.19 là 299.183.000 đồng; xe ô tô biển kiểm soát 34A-687.78 là 96.609.000 đồng; sơ mi rơ-moóc biển kiểm soát 15R-150.02 là 3.166.000 đồng. Tổng giá trị tài sản thiệt hại là 398.958.000 đồng.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Hải Phòng đã thu giữ được 02 đoạn video liên quan đến vụ tai nạn giao thông, gồm: Đoạn video thu từ camera hành trình phía trước của xe ô tô biển kiểm soát 34A-927.19 và đoạn video thu từ camera giám sát của nhà dân tại nơi xảy ra vụ việc. Kết quả kiểm tra, giải trình các video này đều thể hiện: Các xe ô tô đi cùng chiều theo hướng ngã ba T đi cầu B, lần lượt dừng lại phía trước, sau đó xe ô tô biển kiểm soát 34A-927.19 bị tác động từ phía sau đẩy về phía trước va chạm vào xe ô tô biển kiểm soát 34A-687.78, làm xe ô tô biển kiểm soát 34A-687.78 tiếp tục va chạm vào sơ mi rơ-moóc phía trước, những người liên quan đều xác nhận video ghi đúng diễn biến sự việc.

Tại Bản kết luận giám định số 761/KL-KTHS ngày 25/02/2026 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: 01 tập tin video có phần mở rộng

“mp4”,

dung

lượng

15,1

MB,

có

mã

MD5: 7A243F4FA9BD761AD1C28C9705494AD6 được lưu trong CD-R nhãn hiệu Maxell 700MB đã qua sử dụng (ký hiệu A1) không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh; 01 tập tin video có phần mở rộng “MOV”, dung lượng 94,4 MB, có mã MD5: 1745428B3FFBBD6B4E514CCA257E696C được lưu trong CD-R nhãn hiệu Maxell 700MB đã qua sử dụng (ký hiệu A2) không tìm thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh; đồng thời trích xuất 08 hình ảnh nghi liên quan đến vụ việc được lập thành bản ảnh kèm theo.

Về việc thu giữ, xử lý đồ vật, tài liệu: Quá trình điều tra xác định xe ô tô biển kiểm soát 98H-070.27 thuộc sở hữu của Công ty Cổ phần T5, nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô cùng giấy tờ kèm theo cho Công ty Cổ phần T5 là phù hợp; Xe ô tô biển kiểm soát 34A-927.19 thuộc sở hữu của anh Vương Tuấn A, Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô cùng giấy tờ kèm theo cho anh Tuấn A là phù hợp; Xe ô tô biển kiểm soát 34A-687.78 thuộc sở hữu của anh Hoàng Đức Thịnh A1, Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô cùng giấy tờ kèm theo cho anh Thịnh A1 là phù hợp; Xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15C-361.43 kéo theo sơ mi rơ-moóc biển kiểm soát 15R-150.02 thuộc sở hữu của Công ty TNHH G, địa chỉ tại phường H, TP Hải Phòng, Phòng Cảnh sát giao thông Công an thành phố Hải Phòng đã trả lại xe ô tô đầu kéo, sơ mi rơ-moóc cùng giấy tờ kèm theo cho Công ty TNHH G.

Đối với giấy phép lái xe hạng C, số 240118245676 do Sở giao thông vận tải tỉnh B (cũ) cấp ngày 07/5/2021, có giá trị đến ngày 07/5/2026 của bị cáo Đào Ngọc T, hiện đang được quản lý trong hồ sơ vụ án để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với 01 tập tin video có phần mở rộng “mp4” được lưu trong CD-R ký hiệu A1 và 01 tập tin video có phần mở rộng “MOV” được lưu trong CD-R ký hiệu A2 là chứng cứ điện tử liên quan đến vụ án nên cần lưu trong hồ sơ vụ án.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án, bị cáo đã bồi thường, khắc phục toàn bộ thiệt hại hư hỏng xe ô tô cho các bị hại trong vụ tai nạn giao thông. Anh Vương Tuấn A, anh Hoàng Đức Thịnh A1 xác định đã nhận đủ tiền bồi thường, không còn yêu cầu, đề nghị gì khác về trách nhiệm dân sự. Đại diện Công ty TNHH G không có yêu cầu, đề nghị gì về thiệt hại của phương tiện sơ mi rơ-moóc biển kiểm soát 15R-150.02. Công ty Cổ phần T5 không yêu cầu bị cáo Đào Ngọc T phải bồi thường hư hỏng xe ô tô biển kiểm soát 98H-070.27 và đều xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, do vậy về trách nhiệm dân sự trong vụ án không phải đặt ra để giải quyết.

Quá trình điều tra, bị cáo Đào Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp kết quả khám nghiệm hiện trường, kết quả khám nghiệm các phương tiện liên quan, kết luận định giá tài sản, biên bản giải trình video, kết luận giám định dấu vết cơ học, lời khai các nhân chứng và các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Tại Cáo trạng số 13/CT-VKSKV9 ngày 04/5/2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng truy tố bị cáo Đào Ngọc T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

- Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Đào Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm d khoản 1, khoản 5 Điều 260 Bộ luật hình sự; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử phạt Đào Ngọc T từ 21 đến 24 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Đào Ngọc T hành nghề lái các loại xe ô tô trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù. Tạm giữ giấy phép lái xe hạng C, số 240118245676 do Sở giao thông vận tải tỉnh Bắc Ninh (cũ) cấp ngày 07/5/2021, có giá trị đến ngày 07/5/2026 cấp cho Đào Ngọc T để lưu giữ trong hồ sơ vụ án trong thời gian bị cấm hành nghề lái ô tô. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết. Về xử lý vật chứng: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Buộc bị cáo Đào Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, truy tố, phù hợp nội dung biên bản khám nghiệm hiện trường, phù hợp vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ ngày 06/10/2025, tại Km 67+880 Quốc lộ C thuộc thôn M, xã N, thành phố Hải Phòng, Đào Ngọc T điều khiển xe ô tô tải BKS: 98H-070.27 đi theo hướng Quốc lộ E đi cầu B, do T buồn ngủ, ngủ gật trong khi đang điều khiển phương tiện, không chú ý quan sát phía trước, không giữ khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước cùng làn đường nên phần đầu xe ô tô do T điều khiển đã va chạm vào phía sau xe ô tô BKS: 34A-927.19 do anh Vương Tuấn A điều khiển, đẩy xe ô tô BKS: 34A-927.19 va chạm vào phía sau xe ô tô BKS: 34A-687.78 do anh Hoàng Đức Thịnh A1 điều khiển, đẩy xe ô tô BKS: 34A-687.78 va chạm vào phía sau sơmi rơ-moóc BKS: 15R-150.02 được kéo bởi xe ô tô đầu kéo BKS: 15C-361.43 do anh Hà Đình M điều khiển. Hậu quả làm các xe ô tô BKS: 34A-927.19; 34A-687.78 và sơ mi rơ-moóc BKS: 15R-150.02 bị hư hỏng, tổng giá trị thiệt hại là 398.958.000 đồng.

Nguyên nhân xảy ra tai nạn là do bị cáo Đào Ngọc T không chấp hành quy định về tốc độ, khoảng cách an toàn tối thiểu với xe phía trước cùng làn đường hoặc phần đường; không quan sát, giảm tốc độ hoặc dừng lại để bảo đảm an toàn trong trường hợp tầm nhìn bị hạn chế, điều kiện mưa gió, mặt đường trơn trượt. Hành vi của bị cáo Đào Ngọc T đã vi phạm quy định tại khoản 1, điểm c, m khoản 3 Điều 12 Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ; gây thiệt hại về tài sản là 398.958.000 đồng.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9 – Hải Phòng truy tố bị cáo Đào Ngọc T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; sau khi gây ra tai nạn đã tự nguyện, tích cực bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại; đồng thời được các bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi bị cáo đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, đối với bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Nghề nghiệp chính của bị cáo là lái xe nên phải cấm bị cáo Đào Ngọc T hành nghề lái các loại xe ô tô theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật hình sự trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù. Tạm giữ giấy phép lái xe hạng C, số 240118245676 do Sở giao thông vận tải tỉnh Bắc Ninh (cũ) cấp ngày 07/5/2021, có giá trị đến ngày 07/5/2026 cấp cho Đào Ngọc T để lưu giữ trong hồ sơ vụ án trong thời gian bị cấm hành nghề lái ô tô như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 9- Hải Phòng là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án, bị cáo đã bồi thường, khắc phục toàn bộ thiệt hại hư hỏng xe ô tô cho các bị hại trong vụ tai nạn giao thông. Anh Vương Tuấn A, anh Hoàng Đức Thịnh A1 xác định đã nhận đủ tiền bồi thường, không còn yêu cầu, đề nghị gì khác về trách nhiệm dân sự. Đại diện Công ty TNHH G không có yêu cầu, đề nghị gì về thiệt hại của phương tiện sơ mi rơ-moóc biển kiểm soát 15R-150.02. Công ty Cổ phần T5 không yêu cầu bị cáo Đào Ngọc T phải bồi thường hư hỏng xe ô tô biển kiểm soát 98H-070.27, do vậy về trách nhiệm dân sự trong vụ án không phải đặt ra để giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định xe ô tô biển kiểm soát 98H-070.27 thuộc sở hữu của Công ty Cổ phần T5, nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô cùng giấy tờ kèm theo cho Công ty Cổ phần T5; Xe ô tô biển kiểm soát 34A-927.19 thuộc sở hữu của anh Vương Tuấn A, Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô cùng giấy tờ kèm theo cho anh Tuấn A; Xe ô tô biển kiểm soát 34A-687.78 thuộc sở hữu của anh Hoàng Đức Thịnh A1, Cơ quan điều tra đã trả lại xe ô tô cùng giấy tờ kèm theo cho anh Thịnh A1; Xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15C-361.43 kéo theo sơ mi rơ-moóc biển kiểm soát 15R-150.02 thuộc sở hữu của Công ty TNHH G, Phòng Cảnh sát giao thông - Công an thành phố Hải Phòng đã trả lại xe ô tô đầu kéo, sơ mi rơ-moóc cùng giấy tờ kèm theo cho Công ty TNHH G. Xét thấy, các tài sản nêu trên đã được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Đối với 01 tập tin video có phần mở rộng “mp4” được lưu trong CD-R ký hiệu A1 và 01 tập tin video có phần mở rộng “MOV” được lưu trong CD-R ký hiệu A2 là chứng cứ điện tử liên quan đến vụ án nên cần lưu trong hồ sơ vụ án.

Đối với 01 Giấy phép lái xe hạng C, số 240118245676 mang tên Đào Ngọc T do Sở giao thông vận tải tỉnh Bắc Ninh (cũ) cấp ngày 07/5/2021 cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 1, khoản 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Đào Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Đào Ngọc T 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

2. Về hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Đào Ngọc T hành nghề lái các loại xe ô tô trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.

3. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Đào Ngọc T 01 giấy phép lái xe hạng C, số 240118245676 mang tên Đào Ngọc T do Sở giao thông vận tải tỉnh Bắc Ninh (cũ) cấp ngày 07/5/2021, có giá trị đến ngày 07/5/2026 nhưng tiếp tục tạm giữ trong hồ sơ vụ án để đảm bảo việc thi hành án hình phạt bổ sung cấm hành nghề lái xe ô tô.

4. Về án phí: Buộc bị cáo Đào Ngọc T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai./.

Cỡ chữ