- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Xuân H - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Xuân H phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 256a Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2026/HS-ST Ngày 04-3-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Hảo
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Khúc Thế Hoài
Ông Nguyễn Công Biên
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Hữu Hảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5
- Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Vinh - Kiểm sát viên.
- Người tiến hành tố tụng khác tại điểm cầu thành phần: Ông Nguyễn Tiến Đức - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng.
Ngày 04 tháng 3 năm 2026, tại điểm cầu Trung tâm (Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Hải Phòng) và điểm cầu thành phần (Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố Hải Phòng) xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2026/TLST-HS ngày 10 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 43/2026/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo:
Bùi Xuân H, sinh ngày 17 tháng 12 năm 1963 tại thành phố H. Nơi thường trú: Số N Lô H khu công nhân D, phường L, thành phố H; nơi ở hiện tại : Số B đường H, phường L, thành phố H; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: Lớp 6/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Xuân T và bà Nguyễn Thị T (đều đã chết); có vợ là Phạm Thị U và có 03 con; tiền án: Tại Bản án số 04 ngày 29/3/2000, Toà án nhân dân huyện T, tỉnh B xử phạt 40 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; tại Bản án số 203/2008/HSST ngày 24/9/2008, Toà án nhân dân quận L, thành phố H xử phạt 36 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; tiền sự: Không; nhân thân: Tại Bản án số 150/HSST ngày 26/11/1997, Toà án nhân dân quận N, thành phố H xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã được xoá án tích); bị bắt, tạm giam ngày 18/11/2025; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng ngày 30 - 31/10/2025, Bùi Xuân H mua 01 túi ma tuý đá với giá 200.000 đồng của một người phụ nữ khoảng ngoài 30 tuổi không rõ lai lịch tại khu vực đường Q, phường K, thành phố H. Sau khi mua được ma tuý, H mang về nhà số B đường H, phường L, thành phố H sử dụng một mình hết số ma tuý đã mua bằng cách dùng một mẩu túi nilon có lớp tráng bạc để ma tuý vào trong lòng túi rồi châm lửa đốt từ dưới lên, khi khói bốc lên H dùng miệng hút khói vào cơ thể. Đến 09 giờ ngày 04/11/2025, Tổ công tác Công an phường L kiểm tra nhà số B đường H, phường L, thành phố H phát hiện H có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma tuý nên đã tiến hành lập biên bản và thu giữ mẫu nước tiểu của H.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Bùi Xuân H tại nhà số B đường H, phường L, thành phố H không phát hiện, thu giữ đồ vật tài liệu gì liên quan.
Bản Kết luận giám định số 1094/KL-KTHS ngày 10/11/2025 của Phòng Kỹ thuật Hình sự - Công an thành phố H kết luận: Mẫu nước tiểu của Bùi Xuân H gửi giám định tìm thấy chất ma tuý, loại Methamphetamine và Methadone.
Tại Công văn số 513/TTYTHA ngày 09/12/2025 của Trung tâm Y tế H xác nhận: Bùi Xuân H hiện đang điều trị Methadone tại cơ sở điều trị Methadone H từ ngày 05/11/2021.
Tại Bản Cáo trạng số 126/CT-VKSKV5 ngày 07/02/2026 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 - H đã truy tố Bùi Xuân H về tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Bùi Xuân H khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung Cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Kiểm sát viên tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Xuân H từ 30 tháng đến 33 tháng tù về tội Sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - H, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.
- Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, nội dung bản Cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng ngày 30-31/10/2025, khi đang trong thời gian điều trị nghiện ma tuý bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma tuý, Bùi Xuân H đã một mình thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà số B đường H, phường L, thành phố H. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 5 - H truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng với quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm hình sự khác. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo.
- Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo đã 03 lần bị kết án, trong đó có 02 tiền án chưa được xoá án tích. Vì vậy, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt:
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian với mức hình phạt theo đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
- Về án phí:
Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Đối với người phụ nữ bán ma tuý cho H tại khu vực đường Q, phường K, thành phố H, do H không rõ căn cước, lai lịch của người này, không nhớ được chính xác thời gian, địa điểm cụ thể khi mua ma tuý, ngoài lời khai của H không có tài liệu, chứng cứ khác để xác định, làm rõ đối tượng nên không đủ căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 256a; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Xuân H phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Bùi Xuân H 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù kể từ ngày 18/11/2025.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Bùi Xuân H được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Bùi Xuân H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố H; - VKSND khu vực 5 - H; - UBND phường L, thành phố H; - Công an phường L, thành phố H; - Công an thành phố H; - Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an TP. H; - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an thành phố H; - Trại tạm giam số 1 - Công an thành phố H; - TAND thành phố H; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Thị Hảo |