- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn Mạnh, sử dụng trái phép chất ma tuý - phạm tội sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh và điều luật áp dụng:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 256a Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2026/HS-ST Ngày 04 - 02 - 2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Bế Thị Thùy Linh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Xuân Kiên và bà Lã Thị Phương.
- Thư ký phiên tòa: Bà La Thị Hằng, Thư ký viên Tòa án nhân dân khu vực 3
- Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 tham gia phiên tòa: Ông Nông Văn Thiệp - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 02 năm 2026 tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng (Cơ sở 2 tại xóm 6, xã Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng) đã tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 19/2026/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2026/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2026 đối với bị cáo:
Nông Văn M; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày 05 tháng 06 năm 1988 tại xã Quang Trung, tỉnh Cao Bằng;
Nơi thường trú và chỗ ở: xóm N, xã Quang Trung, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nông Thanh B (sinh năm 1956) và bà Nông Thị M (sinh năm 1958); Vợ: Nông Thị H (sinh năm: 1990) và 01 con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/11/2025 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Cao Bằng. (Có mặt);
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nông Văn M là đối tượng tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế (Methadone) tại Trạm Y tế xã Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng.
Hồi 09 giờ 10 phút ngày 05/11/2025, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Cao Bằng chủ trì phối hợp với Công an xã Trà Lĩnh và Trạm Y tế xã Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng tiến hành xét nghiệm ma túy trong nước tiểu đối với Nông Văn M, sinh năm 1988, trú tại: xóm N, xã Quang Trung, tỉnh Cao Bằng là người đang điều trị nghiện bằng thuốc thay thế, kết quả: Dương tính với nhóm OPI.
Tại Kết luận giám định số 3283 ngày 07/11/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Ninh, kết luận: "Mẫu nước tiểu ghi thu của Nông Văn M, SN 1988, HKTT: xóm N, xã Quang Trung, Cao Bằng gửi giám định có tìm thấy chất Morphine, 6-MAM (6-Monoacetylmorphine) là sản phẩm chuyển hóa của Heroin (Heroine)".
Tại cơ quan điều tra, Nông Văn M đã khai nhận bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2019 đến nay. Loại ma túy M sử dụng là Heroine, hình thức sử dụng là hút ma túy qua đường hô hấp đưa ma túy vào cơ thể. Trong quá trình điều trị cai nghiện bằng Methadone, M đã sử dụng ma túy loại Heroine.
Khoảng chiều ngày 03/11/2025, Nông Văn M một mình đi nhờ xe người lạ đến khu vực Cửa khẩu Trà Lĩnh để tìm mua ma túy cho bản thân sử dụng. Khi đến nơi, M thấy một người đàn ông không rõ tên tuổi, địa chỉ. M mua ma túy với người này với số tiền 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, M sử dụng ma túy tại khu đất trống, đối diện chợ gia súc Trà Lĩnh (chợ trâu) thuộc địa phận xóm N, xã Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng. M sử dụng giấy bạc trong bao thuốc lá và bật lửa để đốt ma túy rồi hít ma túy qua đường hô hấp vào cơ thể.
Ngày 05/11/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy trong nước tiểu đối với Nông Văn M tại Trạm Y tế xã Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng. Kết quả xác định M dương tính với chất ma túy. Cơ quan điều tra đã tiến hành lấy mẫu nước tiểu gửi giám định.
Tại cơ quan điều tra, Nông Văn M đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 54/CT-VKSKV3, ngày 09 tháng 01 năm 2026, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng đã truy tố bị cáo Nông Văn M ra trước Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng để xét xử về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nông Văn M thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng đã phản ánh đúng hành vi phạm tội của bị cáo.
Kết thúc phần xét hỏi tại phiên tòa, Kiểm sát viên nhận định bị cáo có đầy đủ khả năng nhận thức về tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình phạm tội, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Cao Bằng vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nông Văn M phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nông Văn M. Xử phạt bị cáo Nông Văn M từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù.
Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Khi được nói lời sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án nhẹ nhất để sớm được trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Cao Bằng, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Qua quá trình xét hỏi và tranh luận công khai tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu và phù hợp với vật chứng đã thu được của bị cáo M. Cụ thể: Nông Văn M là người đang điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế (Methadone) tại Trạm Y tế xã Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng. Ngày 03/11/2025, M sử dụng trái phép chất ma túy, loại heroine bằng hình thức hít trực tiếp vào cơ thể tại khu đất trống đối diện chợ gia súc Trà Lĩnh (chợ trâu) thuộc địa phận xóm N, xã Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng.
Ngày 05/11/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Cao Bằng chủ trì phối hợp với Công an xã Trà Lĩnh và Trạm Y tế xã Trà Lĩnh, tỉnh Cao Bằng tiến hành xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của Nông Văn M gửi giám định. Tại Kết luận giám định số 3283 ngày 07/11/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh, kết luận: "Mẫu nước tiểu ghi thu của Nông Văn M, SN 1988, HKTT: xóm N, xã Quang Trung, Cao Bằng gửi giám định có tìm thấy chất Morphine, 6-MAM (6-Monoacetylmorphine) là sản phẩm chuyển hóa của Heroin (Heroine)".
. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được và biết rõ việc sử dụng trái phép chất ma túy khi đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo đã bất chấp pháp luật cố tình thực hiện tội phạm, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an ở địa phương, là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm khác. Hội đồng xét xử xét thấy, việc sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo khi đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy là tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù có thời hạn quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự mới tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo và đấu tranh phòng ngừa chung.
Do vậy, Hội đồng xét xử có đầy đủ căn cứ để kết tội bị cáo Nông Văn M phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 đã truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, có nhân thân xấu. Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy, bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 02 năm tù đến 02 năm 06 tháng tù. Xét thấy mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
. Các nhận định khác:
Về nguồn gốc số ma túy, quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể của người bán ma tuý cho Nông Văn M nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án là đúng quy định của pháp luật. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, nếu có căn cứ sẽ xử lý trong một vụ án khác.
. Về án phí: Bị cáo Nông Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo có đơn đề nghị miễn giảm án phí, trong đơn thể hiện, bị cáo đang sinh sống tại vùng kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn. Do đó, bị cáo được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo Nông Văn M có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tuyên bố bị cáo Nông Văn M phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;
2. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Nông Văn M 02 năm tù, thời hạn chấp hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 07/11/2025;
3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nông Văn M không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo. Bị cáo Nông Văn M có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cao Bằng; - VKSND tỉnh Cao Bằng; - VKSND khu vực 3; - Trại tạm giam CA tỉnh Cao Bằng; - Cơ quan điều tra - CA tỉnh Cao Bằng; - Phòng hồ sơ nghiệp vụ - Công an tỉnh Cao Bằng (PV06); - Phòng Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp - CA tỉnh Cao Bằng (PC10) - Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 3 - Cao Bằng; - Công an xã Quang Trung; - Bị cáo; - UBND xã Quang Trung (Bằng T/B); - Lưu HS vụ án; - Lưu án văn. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký và đóng dấu) Bế Thị Thùy Linh |