- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Q - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/11/2025.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11 – NINH BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2026/HS-ST Ngày 20 - 3 - 2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11- NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đính.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Đê;
Bà Nguyễn Thị Thúy Mùi
Thư ký phiên toà: Ông Phạm Công Trình - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 26/2026/TLST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2026/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 3 năm 2026 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Q, sinh năm 1987; nơi sinh, nơi cư trú: Xóm 17, xã Hải X, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1964 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1968; có vợ là Nguyễn Thị V, sinh năm 1989; bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/11/2025 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Hải Hậu, Trại tạm giam số 3 Công an tỉnh Ninh Bình. “có mặt”.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1989; địa chỉ: Xóm 17, xã Hải X, tỉnh Ninh Bình. “có mặt”.
- Người chứng kiến:
1. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1988; “vắng mặt”.
2. Anh Bùi Văn H, sinh năm: 1994. “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ ngày 12/11/2025, Nguyễn Văn Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda PCX màu xanh, biển số 59S2 - 469.61 đi từ Trung tâm y tế Hải Hậu, tỉnh Ninh Bình đến khu vực nghĩa trang thuộc thôn 8, xã Hải A, tỉnh Ninh Bình tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến nơi, Q gặp một người phụ nữ không biết tên, tuổi, địa chỉ. Qua dò hỏi, biết người này có bán ma túy là Heroine nên Q hỏi mua 400.000 đồng, người phụ nữ đồng ý bán, nhận tiền và đưa cho Q 02 gói giấy màu trắng, mỗi gói có kích thước (1 x 3)cm, bên trong có chứa ma túy, sau đó Q cầm 02 gói ma túy ở lòng bàn tay trái rồi điều khiển xe về nhà. Đến khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày, Q về đến khu vực đường dong thuộc thôn 8, xã Hải A thì bị tổ công tác của Công an xã Hải A kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ của Q 02 gói giấy màu trắng, mỗi gói có kích thước (1 x 3)cm, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (Niêm phong ký hiệu M), Q khai nhận đó là ma túy cất giấu để sử dụng cho bản thân; thu giữ mẫu nước tiểu của Nguyễn Văn Q (niêm phong ký kiệu M1). Ngoài ra, tổ công tác còn tạm giữ của Q 01 xe mô tô biển số 59S2 - 469.61.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn Q còn khai nhận: Ngày 09/11/2025, tại khu vực đê sông Ninh Cơ thuộc xã Hải A, Q gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng rồi sử dụng dưới hình thức tiêm chích.
Tại các bản kết luận giám định số 1904/KL-KTHS ngày 19/11/2025 và số 1929/KL-KTHS ngày 20/11/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Mẫu chất bột dạng cục màu trắng được niêm phong ký hiệu M có khối lượng 0,235 gam gửi giám định là ma túy, loại Heroine. Có tìm thấy các chất gồm Morphine và Codeine (là các sản phẩm chuyển hóa của Heroine) trong mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định.
Cáo trạng số 64/CT-VKS-KV11 ngày 11/02/2026 của Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Xử phạt bị cáo từ 42 đến 48 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Đề nghị xử lý vật chứng đã thu giữ trong quá trình điều tra.
Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng: Bị cáo không có ý kiến tranh luận; bị cáo ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Ninh Bình, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 11 giờ 40 ngày 12/11/2025, tại khu vực đường dong thuộc thôn 8, xã Hải A, tỉnh Ninh Bình. Nguyễn Văn Q có hành vi tàng trữ trái phép 0,235 gam Heroine để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Công an xã Hải A, tỉnh Ninh Bình phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 11 - Ninh Bình đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ tác hại của ma túy nhưng vẫn tàng trữ ma túy để sử dụng. Do đó cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, xét cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo học tập, cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 phong bì thư niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 1904 ngày 19/11/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình hoàn trả sau giám định, xác định là Heroine là vật Nhà nước cấm tàng trữ sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
- Đối với chiếc xe mô tô biển số 59S2 - 469.61 thu giữ của bị cáo, qua xác minh là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị V là vợ bị cáo. Ngày 12/11/2025, bị cáo Q tự ý lấy xe đi mua ma túy, chị V không biết nên cần trả lại cho chị V là phù hợp.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo trước khi bị bắt, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng bị cáo không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, d khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự (sửa đổi, bổ sung năm 2025) nên Công an xã Hải A, tỉnh Ninh Bình đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với bị cáo là phù hợp
Đối với người đàn ông và người phụ nữ bán ma túy cho Nguyễn Văn Q vào các ngày 09, 12 tháng 11 năm 2025 tại xã Hải A, tỉnh Ninh Bình, do Q không biết rõ tên, địa chỉ nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 42 (Bốn mươi hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/11/2025.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư niêm phong hoàn trả mẫu vật sau giám định số 1904/KL-KTHS ngày 19/11/2025 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình.
- Trả lại cho chị Nguyễn Thị Vui 01 (một) chiếc xe mô tô biển số 59S2 - 469.61.
(Vật chứng nêu trên được mô tả như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Ninh Bình và Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình ngày 13 tháng 03 năm 2026)
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 cùng Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy đinh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn Q phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND tỉnh + Khu vực 11; - Công an tỉnh Ninh Bình; - THAHS +THADS; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - UBND xã Hải X; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Đính |