- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Anh C - Tàng trữ trái phép chất ma túy - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố Hoàng Anh C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2026/HS-ST Ngày: 11/03/2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LÀO CAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Băng và bà Cao Thị Chuyên
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Mai Huế -Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1
- Lào Cai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Lào Cai tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Bích Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 03 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Lào Cai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2026/HSST ngày 05 tháng 02 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2026/ QĐXXST-HS ngày 26/02/2026 đối với bị cáo:
* Hoàng Anh C, sinh ngày 18 tháng 4 năm 1978, tại tỉnh Lào Cai. Nơi ĐKTT: Tổ dân phố Y, phường Y, tỉnh Lào Cai; chỗ ở: Tổ dân phố Đ, phường Y, tỉnh Lào Cai; Nghề nghiệp: Hưu trí; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Thẻ CCCD số 015078000268; nơi cấp Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Bộ C2; Giới tính: Nam; Con ông Hoàng Anh V, sinh năm 1945 (đã chết); Con bà Lương Thị N, sinh năm 1946 (đã chết); Vợ là Hoàng Thị Ánh L, sinh năm 1982 (đã ly hôn); có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2011; Chức vụ, đảng phái: Đảng viên đảng Đ1, hiện đã bị Ủy ban kiểm tra đảng ủy phường Â, tỉnh Lào Cai thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ ra khỏi Đảng theo quyết định số 09-QĐ/UBKTĐU ngày 07/01/2026; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại tổ dân phố Đ, phường Y, tỉnh Lào Cai. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm Anh N1, sinh năm 1975. Trú tại: Tổ dân phố Đ, phường Y, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt.
* Những người chứng kiến:
+ Ông Nguyễn Quang M, sinh năm 1962
+ Ông Bùi Xuân Đ, sinh năm 1964
+ Ông Nguyễn Thế P, sinh năm 1952
+ Ông Bùi Quốc T, sinh năm 1946.
Cùng trú tại: Tổ dân phố Đ, phường Y, tỉnh Lào Cai.
Những người chứng kiến có tên nêu trên đều vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 20 phút ngày 02/10/2025, tổ công tác Phòng CSĐTTP về ma túy Công an tỉnh L phối hợp cùng Công an phường Y kiểm tra nơi ở của Phạm Anh N1, có mặt Hoàng Anh C đang nằm trên giường, còn N1 đang ngồi cùng C ở trên giường cạnh phòng khách nhà N1. Quá trình kiểm tra thì N1 vẫn ngồi tại vị trí ban đầu còn C bỏ chạy ra phía sau nhà, đồng thời khi bỏ chạy C đã lấy ở trong túi quần bò bên phải đang mặc 01 túi nilon màu trắng bên trong có 05 viên nén màu hồng và 01 túi nilon màu trắng bên trong có bám dính chất bột nén màu trắng vứt trên nền sân sau sát bờ rào phía sau nhà của N1 và nhảy qua hàng rào sắt, tổ công tác đã tiến hành truy đuổi đến khu vực Trường tiểu học N2 thì bắt giữ được C. Tổ công tác đã đưa C quay lại nhà của Phạm Anh N1 và lập biên bản sự việc, thu giữ vật chứng là 02 túi ma túy của C và số tiền 500.000 đồng do N1 tự giao nộp.
Qua đấu tranh, Hoàng Anh C khai nhận: Khoảng gần 13 giờ ngày 02/10/2025, Hoàng Anh C đang đi bộ tại khu vực sân vận động T1 thuộc tổ dân phố Đ, phường Y, tỉnh Lào Cai thì gặp Phạm Anh N1. Do quen biết với nhau nên N1 đã rủ C về nhà Ngọc C1, C đồng ý và hai người cùng đi bộ về nhà N1 tại tổ dân phố Đ, phường Y, tỉnh Lào Cai. Sau đó do thấy mệt nên C vào nằm ở giường tầng một, còn N1 ngồi cùng C ở trên giường để nói chuyện với nhau. Lúc này, trong túi quần C đang mặc trên người cất giấu 05 viên ma túy tổng hợp để ở trong túi nilon màu trắng, loại túi zip, miệng túi có viền màu xanh và 01 túi nilon màu trắng, loại túi zip, miệng túi có viền màu trắng, bên trong có bám dính chất bột là ma tuý tổng hợp do C cạo ra từ viên ma tuý tổng hợp C mua được trước đó, mục đích C mang ma túy theo người để khi có nhu cầu thì sử dụng cho bản thân. Khi thấy lực lượng Công an tiến hành kiểm tra, do sợ bị phát hiện trên người có ma tuý nên C đã bỏ chạy ra phía sau nhà của N1 và dùng tay lấy số ma tuý đang cất giấu trong túi quần bò bên phải đang mặc trên người ra vứt lại ở khu vực sân phía sau trong khuôn viên nhà N1 rồi nhảy qua hàng rào bỏ chạy đến gần cổng Trường Tiểu học N2 thì bị lực lượng Công an bắt giữ đưa quay lại nhà của N1 để lập biên bản bắt người quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng. Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, C khai nhận vào ngày 25/9/2025, do có nhu cầu sử dụng trái phép chất ma tuý nên C đi ra khu vực cầu B thuộc tổ dân phố X, phường Â, tỉnh Lào Cai tìm mua ma tuý. Tại đây, C gặp và mua được của một người đàn ông không quen biết 10 viên ma tuý tổng hợp Methamphetamine với giá 800.000 đồng. Sau đó, C mang ma túy về nhà và đã một mình sử dụng hết 05 viên bằng hình thức đốt, hít qua đường miệng, đối với 05 viên còn lại C cạo sẵn ra một ít bột cho vào 01 túi nilon màu trắng loại túi zip, có viền màu trắng để tiện cho việc sử dụng và dùng 01 túi nilon màu trắng loại túi zip viền màu xanh để đựng 05 viên ma túy tổng hợp Methamphetamine.
Đối với Phạm Anh N1 khai nhận: Do nghiện sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2000, nên vào ngày 29/9/2025, N1 đi ra khu vực Cầu B, thuộc phường Â, tỉnh Lào Cai gặp và mua được 02 viên ma túy tổng hợp của một người đàn ông không quen biết, tên tuổi, địa chỉ với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, N1 mang về nhà tại tổ dân phố Đ, phường Y, tỉnh Lào Cai và một mình sử dụng hết số ma túy này bằng hình thức đốt qua giấy bạc, hít trực tiếp vào cơ thể. Tại thời điểm C đến nhà N1 chơi thì cả hai không sử dụng trái phép chất ma túy.
Ngày 02/10/2025, Công an tỉnh L đã tiến hành xét nghiệm ma túy trong cơ thể của Phạm Anh N1 và Hoàng Anh C, kết quả: Phạm Anh N1 dương tính với ma túy nhóm MET; Hoàng Anh C dương dính với ma túy (AMP).
Tại Bản kết luận giám định số: 644/KL-KTHS ngày 07/10/2025 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận:
- Các viên nén màu hồng trong túi nilon màu trắng, loại túi zip, miệng túi có viền màu xanh, trong phong bì niêm phong, ký hiệu M1 gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 0,51 gam (đã trích 0,21 gam để giám định, hoàn lại cơ quan trưng cầu 0,3 gam);
- Chất bột nén màu trắng trong túi nilon màu trắng, loại túi zip, trong phong bì niêm phong, ký hiệu M2 gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,006 gam (vật chứng đã sử dụng hết trong giám định).
Tại Bản kết luận giám định số: 654/KL-KTHS ngày 08/10/2025 của Phòng K - Công an tỉnh L kết luận: 01 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) gửi giám định là tiền thật.
Bản cáo trạng số 68/CT-VKS-KV1 ngày 04/02/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Lào Cai đã truy tố bị cáo Hoàng Anh C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Lào Cai luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX:
- Về tội danh: Tuyên bố Hoàng Anh C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), xử phạt Hoàng Anh C từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
- Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật TTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,3 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau khi trích mẫu giám định, được niêm phong trong 01 phong bì do Phòng K Công an tỉnh L phát hành; 01 phong bì niêm phong do phòng K Công an tỉnh L phát hành bên trong có 01 túi nilon màu trắng, loại túi zíp (đã bị cắt trong quá trình lấy mẫu giám định) và 01 túi nilon màu trắng, miệng túi có viền màu xanh; 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong;
- Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 136; Điều 331; Điều 333 BLTTHS; khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, giảm, miễn, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy do bản thân thực hiện là vi phạm pháp luật, thành khẩn khai báo, không có tranh luận gì với ý kiến của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử cho hưởng mức hình phạt thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ, việc vắng mặt của người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292 Bộ luật TTHS, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.
Về tội danh:
Tại phiên tòa Hoàng Anh C thừa nhận: Do bản thân sử dụng ma túy, ngày 02/10/2025, tại nơi ở của Phạm Anh N1, thuộc tổ dân phố Đ, phường Y, tỉnh Lào Cai, Hoàng Anh C đã có hành vi tàng trữ 0,516 gam (Không phẩy năm trăm mười sáu gam) ma tuý, loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân, thì bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng.
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, giai đoạn truy tố và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, như biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, vật chứng thu giữ của vụ án, Bản kết luận giám định về ma túy, Bản kết luận điều tra, Cáo trạng...nên có đủ cơ sở kết luận: Hành vi tàng trữ 0,516 gam (Không phẩy năm trăm mười sáu gam) ma tuý, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân do Hoàng Anh C thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2025.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Lào Cai truy tố bị cáo theo tội danh và Điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, HĐXX thấy:
Hành vi do bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Đây cũng là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ khả năng nhận thức để điều chỉnh mọi hành vi của bản thân, nhận thức được tác hại của ma túy nhưng chỉ vì để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần phải có một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, bị cáo có bố đẻ là ông Hoàng Anh V được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhì, nên cho hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Không.
Về nhân thân: Trước đó bị cáo chưa từng bị kết án.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, không có mục đích vụ lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền.
Về hành vi của các đối tượng khác có liên quan:
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Hoàng Anh C vào ngày 25/9/2025 tại nơi ở của C ở tổ dân phố Đ, phường Y, tỉnh Lào Cai. Xét thấy, hành vi đó không cấu thành tội Sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an phường Y, tỉnh Lào Cai đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0004308/QĐ-XPHC ngày 07/01/2026 đối với Hoàng Anh C bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng là phù hợp. Hiện tại C chưa chấp hành việc nộp phạt.
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Phạm Anh N1 vào ngày 29/9/2025 tại nơi ở của N1 ở tổ dân phố Đ, phường Y, tỉnh Lào Cai. Xét thấy, hành vi này không cấu thành tội Sử dụng trái phép chất ma túy. Sau khi xác định Phạm Anh N1 là đối tượng nghiện chất ma tuý, Công an phường Y, tỉnh Lào Cai đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Phạm Anh N1. Ngày 30/10/2025, Toà án nhân dân khu vực 1, tỉnh Lào Cai đã ban hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc số 28/2025/QĐ-TA đối với Phạm Anh N1, thời gian chấp hành là 24 tháng kể từ ngày 07/10/2025.
- Đối với 02 người đàn ông đã bán ma túy cho Phạm Anh N1 vào ngày 29/9/2025 và Hoàng Anh C vào ngày 25/9/2025. Quá trình điều tra do không xác định tên tuổi, địa chỉ cụ thể của những người này nên không có đủ căn cứ để điều tra làm rõ và xử lý.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 0,3 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau khi trích mẫu giám định được niêm phong trong một phong bì niêm phong do Phòng K Công an tỉnh L phát hành là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành nên bị tịch thu tiêu hủy.
- Các vật chứng khác của vụ án, gồm: 01 phong bì niêm phong do phòng K Công an tỉnh L phát hành bên trong có 01 túi nilon màu trắng, loại túi zíp (đã bị cắt trong quá trình lấy mẫu giám định) và 01 túi nilon màu trắng, miệng túi có viền màu xanh; 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong; không có giá trị sử dụng, nên bị tịch thu tiêu hủy.
Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố Hoàng Anh C phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2025, xử phạt Hoàng Anh C 03 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung.
3. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng các Điều 46, 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy 0,3 gam ma túy loại Methamphetamine được niêm phong trong một phong bì do Phòng K Công an tỉnh L phát hành, mặt trước phong bì có ghi: “Vật chứng thu giữ khi kiểm tra Phạm Anh N1 - SN 1975 và Hoàng Anh C - SN 1978 ngày 02/10/2025 (sau khi trích mẫu giám định); 01 phong bì niêm phong do phòng K Công an tỉnh L phát hành bên trong có 01 túi nilon màu trắng, loại túi zíp (đã bị cắt trong quá trình lấy mẫu giám định) và 01 túi nilon màu trắng, miệng túi có viền màu xanh; 01 vỏ phong bì đã mở niêm phong.
(Các vật chứng nêu trên có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L với Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 tỉnh Lào Cai ngày 10/01/2026).
4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326 UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Hoàng Anh C phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, 333 BLTTHS: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai; - VKS tỉnh Lào Cai; - VKSND Khu vực 1 - Lào Cai; - CQCSĐTCAT.Lào Cai; - Công an p. Yên Bái, tỉnh Lào Cai; - Bị cáo (TG) - Trại TG số 02 CA tỉnh Lào Cai; - THADS tỉnh Lào Cai (1); - Hồ sơ NVCAT Lào Cai; - THA phạt tù (2); - Lưu HS, TA. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Đã ký Nguyễn Thị Thủy |