- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bản án 42"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
KHU VỰC 3 - NINH BÌNH
NAM
Bản án số: 42/2026/HNGĐ-ST
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Ngày: 27-5-2026 V/v: Ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn. NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3- NINH BÌNH Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Quỳnh Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Khắc Thái; Ông Lương Mạnh Tường. Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bình- Thẩm tra viên Toà án nhân dân Khu vực 3 -Ninh Bình. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Ninh Bình tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Lan – Kiểm sát viên. Ngày 27 tháng 5 năm 2026 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Ninh Bình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 25/2026/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2026 về việc:“Ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2026/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 4 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2026/QĐ-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2026, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị M sinh ngày 29/6/1995; số CCCD: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: Thôn M, xã G, tỉnh Ninh Bình
- Bị đơn: Anh Hà Xuân P, sinh ngày 27/10/1990; số CCCD: xxxxxxxxxxxx; Địa chỉ: Thôn M, xã G, tỉnh Ninh Bình. Các đương sự vắng mặt. NỘI DUNG VỤ ÁN: Tại đơn khởi kiện đề ngày 15 tháng 01 năm 2026, bản tự khai và các biên bản hòa giải, nguyên đơn chị Trần Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Tôi và anh Hà Xuân P kết hôn năm 2021, có thực hiện việc đăng ký tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình nay là xã G, tỉnh Ninh Bình. Sau khi cưới chúng tôi chung sống với nhau tại Thôn M, xã G, tuy nhiên hai bên chỉ sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do không hợp, nguyên nhân chính là do anh P hay uống rượu dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi chửi nhau. Thực tế chúng tôi đã ly thân từ tháng 7/2023 cho đến nay, nay tôi xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Hà Xuân P.
Về con chung: Tôi và anh P có 02 con chung là các cháu: Hà Trọng T, sinh ngày 31/5/2021; Hà Thảo C sinh ngày 02/3/2023; Hiện hai cháu đang ở với anh Hà Xuân P. Nguyện vọng của tôi xin được nuôi cháu Hà Thảo C, cháu Hà Trọng T để anh P nuôi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Về tài sản chung, công nợ chung: Tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với bị đơn anh Hà Xuân P: Mặc dù được Tòa án tống đạt hợp lệ các thông báo, giấy báo, tuy nhiên anh P không đến Tòa án làm việc và cũng không gửi văn bản bày tỏ ý kiến của anh đối với yêu cầu khởi kiện của chị M. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân Khu vực 3-Ninh Bình đã tiến hành giải quyết theo quy định. Tuy nhiên anh Hà Xuân P không đến tham gia các phiên họp và hòa giải tại Tòa án, vì vậy vụ án không tiến hành hòa giải được và được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.
Tại đơn xin xử vắng mặt, chị Trần Thị M vẫn giữ quan điểm như đơn khởi kiện và bản tự khai là xin ly hôn với anh Hà Xuân P, về con chung: Chị M có nguyện vọng xin được nuôi cháu Hà Thảo C, cháu Hà Trọng T để anh P nuôi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Do bị đơn có nơi cư trú tại xã G, tỉnh Ninh Bình nên Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Ninh Bình thụ lý giải quyết tranh chấp là đúng thẩm quyền theo quy định tại các Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật TTDS năm 2015.
- Việc xác định quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện, Thẩm phán xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là“Ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn” là đúng quy định tại Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Thẩm phán đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Quyết định đưa vụ án ra xét xử đảm bảo về hình thức, nội dung.
- Thời hạn gửi hồ sơ, văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát: Đảm bảo quy định của pháp luật, việc tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Việc giao nộp tài liệu chứng cứ: Thực hiện đúng các quy định tại Điều 96 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, các tài liệu là bản sao đều có chứng thực của cơ quan có thẩm quyền.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Bị đơn không thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Đề nghị HĐXX: Áp dụng: các Điều 5, Điều 147, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị M. Xử ly hôn giữa chị Trần Thị M và anh Hà Xuân P. 2. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con chung: Giao cháu Hà Thảo C sinh ngày 02/3/2023, hiện nay đang ở cùng anh P cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Giao cháu Hà Trọng T, sinh ngày 31/5/2021, cho anh P tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Cha mẹ có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, khi có lí do chính đáng một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. 3. Về án phí: chị Trần Thị M phải chịu án phí ly hôn theo quy định là 300.000 đồng, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng chị M đã nộp tạm ứng án phí tại Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN: [1]. Về thủ tục tố tụng: [1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật “Ly hôn, giải quyết về con chung khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. [1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn có nơi cư trú tại xã G, tỉnh Ninh Bình nên Tòa án nhân dân Khu vực 3-Ninh Bình thụ lý vụ án là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. [2]. Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa HĐXX nhận thấy: [2.1]. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị M và anh Hà Xuân P là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên hai bên chỉ chung sống hạnh phúc được với nhau thời gian đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do hai bên không hợp nhau về mọi mặt, thực tế hai bên đã ly thân, không quan tâm gì đến nhau. Điều đó chứng tỏ quan hệ hôn nhân giữa hai bên chỉ còn tồn tại về mặt hình thức, mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy yêu cầu xin ly hôn của chị M với anh P là có căn cứ, phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. [2.2]. Về nuôi con chung: Chị M và anh P có 02 con chung là các cháu: Hà Trọng T, sinh ngày 31/5/2021; Hà Thảo C sinh ngày 02/3/2023; Hiện hai cháu đang ở với anh Hà Xuân P. Nguyện vọng của chị M xin được nuôi cháu Hà Thảo C, cháu Hà Trọng T để anh P nuôi, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy, chị M và anh P đều khỏe mạnh, có thu nhập, cháu T và cháu C còn nhỏ, việc giao mỗi bên nuôi dưỡng 1 cháu là đảm bảo sự ổn định cũng như quyền và lợi ích của các cháu, phù hợp với quy định của pháp luật vì vậy cần chấp nhận. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị M không có yêu cầu nên không đặt ra việc xem xét giải quyết. [2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. [2.4]. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị M phải chịu theo quy định của pháp luật, được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị M đã nộp tại cơ quan Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình. Vì các lẽ trên. QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Các điều 147, 227, 228, 238, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Áp dụng: Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí Toà án. 1. Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị M ly hôn với anh Hà Xuân P. 2.Về nuôi con chung: Giao cháu Hà Thảo C sinh ngày 02/3/2023, hiện nay đang ở cùng anh P cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Giao cháu Hà Trọng T, sinh ngày 31/5/2021, cho anh P tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cho đến khi cháu đủ 18 tuổi. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con chung cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Vì lợi ích của con, khi có lí do chính đáng một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn. 3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Trần Thị M phải chịu 300.000 đồng, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí chị M đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000350 ngày 20/01/2026 của Thi hành án Dân sự tỉnh Ninh Bình. 4. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án. Người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND tỉnh Ninh Bình; - VKSND Khu vực 3 – Ninh Bình; - Thi hành án DS tỉnh Ninh Bình; - UBND xã Gia Phong - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Hương Quỳnh |