- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Thịnh - Thoảng"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Cao Phú T về việc xin ly hôn chị Nguyễn Thanh T1.
- Căn cứ chính? Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2026/HNGĐ-ST Ngày: 28 – 01 – 2026 “V/v xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thúy Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Huỳnh Hưởng.
Bà Đỗ Mỹ Lil.
- Thư ký phiên toà: Ông Lữ Tấn Thiên là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Ngày 28 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 522/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 12 năm 2025, về việc xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 638/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 12 năm 2025, giữa:
Nguyên đơn: Anh Cao Phú T, sinh năm: 2002 (Có mặt).
Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 22/11/2021;
Địa chỉ: Ấp T, xã S, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Chị Nguyễn Thanh T1, sinh năm: 2006 (Vắng mặt).
Số căn cước công dân: xxxxxxxxxxxx, cấp ngày 22/06/2022;
Địa chỉ: Ấp R, xã T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa anh Cao Phú T là nguyên đơn thể hiện:
Về hôn nhân: Anh và chị Nguyễn Thanh T1 chung sống vợ chồng với nhau vào năm 2022, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán tại địa phương, không có đăng ký kết hôn. Đến ngày 31/3/2025 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là xã S, tỉnh Cà Mau). Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc. Đến tháng 03 năm 2025 anh, chị phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do anh, chị bất đồng quan điểm dẫn đến vợ chồng cự cãi thường xuyên. Mâu thuẫn giữa vợ chồng cha, mẹ hai bên có tổ chức hòa giải hàn gắn nhưng không thành. Anh, chị không còn sống chung từ cuối tháng 3 năm 2025 cho đến nay. Anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh yêu cầu được ly hôn chị T1.
Về con chung: Anh T xác định: Anh, chị có một người con chung tên Cao Triệu V, sinh ngày 14/3/2023, hiện con đang sống với anh T. Khi ly hôn anh T yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu chị T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Anh T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về nợ chung: Anh T khai vợ chồng không nợ ai và không ai nợ lại anh, chị.
Đối với chị Nguyễn Thanh T1, trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn chị T1 đầy đủ, đúng theo quy định pháp luật nhưng chị T1 vẫn vắng mặt và không có văn bản thể hiện ý kiến, cũng không có đơn phản tố gửi cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét đơn khởi kiện của anh Cao Phú T về việc xin ly hôn với chị Nguyễn Thanh T1 thuộc lĩnh vực hôn nhân và gia đình được quy định tại các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; chị T1 là bị đơn có nơi cư trú tại ấp R, xã T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau theo quy định tại Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị Nguyễn Thanh T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên tòa xét xử theo quy định nhưng chị T1 vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị T1 theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Anh Cao Phú T và chị Nguyễn Thanh T1 tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng, có tổ chức lễ cưới theo phong tục, tập quán ở địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện T, tỉnh Cà Mau (nay là xã S, tỉnh Cà Mau) vào ngày 31/3/2025 nên hôn nhân được chấp nhận là hợp pháp và được pháp luật công nhận, bảo vệ. Quá trình chung sống anh, chị có nhiều mâu thuẫn. Xét thực tế cuộc sống chung của anh, chị có mâu thuẫn là đúng vì theo anh T thì vợ chồng anh, chị có xảy ra mâu thuẫn, mâu thuẫn đỉnh điểm anh, chị không còn quan tâm, chăm sóc, quý trọng nhau, cự cãi nhiều lần, mỗi người sống một nơi từ cuối tháng 3 năm 2025 cho đến nay. Trong khoảng thời gian này anh, chị không ai có biện pháp gì để khắc phục tình trạng mâu thuẫn của vợ, chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống hôn nhân của anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận cho anh T được ly hôn với chị T1.
Về con chung: Anh, chị có một người con chung tên Cao Triệu V, sinh ngày 14/3/2023, hiện con đang sống với anh T. Khi ly hôn anh T yêu cầu được tiếp tục nuôi con.
Xét thấy việc nuôi dạy con là quyền và nghĩa vụ của anh T và chị T1. Giao con cho anh T hoặc chị T1 trực tiếp nuôi dạy cần căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con nhưng không phải giao con cho anh T hay chị T1 nuôi thì người không trực tiếp nuôi con bị tước đi các quyền chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung nhưng việc anh, chị không sống chung đã phần nào ảnh hưởng đến cuộc sống bình thường của con nên cần phải hạn chế đến mức thấp nhất việc ảnh hưởng đời sống và bảo đảm được việc học hành, sự phát triển tốt về thể chất, tinh thần của con. Bên cạnh đó, cháu V mới 34 tháng tuổi theo quy định tại Điều 81 luật Hôn nhân và gia đình con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi nhưng quá trình Toà án giải quyết và tại phiên toà chị T1 không đến Toà cũng không trình bày nguyện vọng muốn nuôi con, anh T không biết chị T1 hiện đang ở đâu. Hội đồng xét xử xét thấy cháu V còn rất nhỏ và đang sống ổn định với anh T, anh T có nguyện vọng muốn tiếp tục nuôi cháu V nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 6 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 và áp dụng án lệ số 54/2022AL1 về xác định quyền nuôi con dưới 36 tháng tuổi trong trường hợp người mẹ không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 07/9/2022 và được công bố theo Quyết định số 323/QĐ-CA ngày 14/10/2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao để tránh sự xáo trộn tâm lý, cuộc sống của con nên Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu V cho anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.
Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Chị T1 không trực tiếp nuôi các con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục các con chung không ai được cản trở.
Về tài sản chung: Anh T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Về nợ chung và người khác nợ lại: Anh T khai vợ chồng anh, chị không nợ ai và không ai nợ lại anh, chị nên không đề cập giải quyết.
Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Cao Phú T về việc xin ly hôn chị Nguyễn Thanh T1.
2. Về con chung: Giao Cao Triệu V, sinh ngày 14/3/2023, hiện con đang sống với anh T cho anh T được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng.
Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng: Anh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Chị T1 không trực tiếp nuôi các con có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục các con chung không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Anh T xác định không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
4. Về nợ chung và người khác nợ lại: Anh T khai vợ chồng anh, chị không nợ ai và không ai nợ lại anh, chị nên không đề cập giải quyết.
5. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Án phí dân sự sơ thẩm về Hôn nhân và gia đình, anh T phải chịu 300.000 đồng. Ngày 10 tháng 12 năm 2025, anh T đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai số 0006197 tại Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau được chuyển thu.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Anh Cao Phú T có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Chị Nguyễn Thanh T1 vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND khu vực 3 - Cà Mau; - UBND xã Trần Văn Thời. - Các đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lê Thúy Dung |