- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L TỈNH L | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2025/HS-ST Ngày: 27-3-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L, TỈNH L
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Sung
Ông Lưu Quang Vinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Lệ Quyên – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L tham gia phiên tòa: Bà Phùng Mai Hoa - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2025/TLST – HS ngày 28/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 43/2025/QĐXXST-HS ngày 14/3/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lò Văn Đ (tên gọi khác: Không có); Giới tính: Nam, sinh 20 tháng 10 năm 1991, tại tỉnh L; Nơi cư trú: Bản K, xã B, huyện T, tỉnh L; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Thái; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Lò Văn T, sinh năm 1969 và bà Lò Thị O, sinh năm 1970; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 02 chị em bị cáo là con thứ hai trong gia đình;
Tiền án: 01 tiền án. Bản án số 75/2022/HS-ST ngày 29/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh L áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 17, Điều 58 BLHS, xử phạt Lò Văn Đ 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và buộc phải chịu 200.000 đồng án phí HSST. Ngày 08/08/2024, Lò Văn Đ chấp hành xong án phạt tù và đã nộp án phí nhưng tính đến thời điểm phạm tội Đ chưa được xóa án tích;
Tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 18/12/2024 đến ngày 24/12/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Cơ sở quản lý tạm giữ, tạm giam khu vực thành phố, thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh L cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 10 phút ngày 18/12/2024, Lò Văn Đ đang chơi ở nhà người thân tại tổ 28, phường Đông Phong, thành phố L, tỉnh L để chơi thì lên cơn nghiện ma túy nên đã đi bộ ra khỏi nhà tìm mua ma tuý để sử dụng. Khi Đ đi đến khu vực đồi chè thuộc tổ 15, phường Tân Phong, thành phố L, tỉnh L thì gặp một người phụ nữ không rõ nhân thân lai lịch, nhìn giống người nghiện ma túy nên đã hỏi mua ma tuý với người này. Qua trao đổi mua bán, Đ mua được của người phụ nữ này 01 gói Heroine được gói bên ngoài bằng 01 mảnh giấy có một mặt có in dòng kẻ màu đỏ, chữ màu xanh, một mặt màu trắng, với giá 100.000 đồng. Mua được Heroine, Đ đi bộ đến khu vực đồi chè gần đó sử dụng một ít bằng hình thức hít. Sử dụng Heroine xong, Đ gói số Heroine còn lại như cũ và cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ quay về nhà người thân tại tổ 28, phường Đông Phong (bật lửa và giấy bạc sử dụng Heroine Đ vứt lại khu vực đồi chè). Hồi 13 giờ 40 phút cùng ngày, khi Đ đang đi bộ trên đường dân sinh thuộc tổ 15, phường Tân Phong, thành phố L, tỉnh L thì bị tổ công tác của Công an phường Tân Phong, thành phố L phối hợp với đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma tuý Công an thành phố L kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng là 01 gói Heroine Đ đang tàng trữ để sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 53/KLGĐ ngày 18/12/2024 của Người giám định tư pháp theo vụ việc và Kết luận giám định số 37/KL-KTHS ngày 20/12/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L kết luận: Số chất bột màu trắng thu giữ của Lò Văn Đ trong quá trình bắt quả tang ngày 18/12/2024 có khối lượng là 0,03 gam; 01 mẫu chất bột, màu trắng gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine.
Lò Văn Đ đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 75/2022/HS-ST ngày 29/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh L, chưa được xóa án tích nên Lò Văn Đ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ 0,03 gam Heroine để sử dụng.
Vật chứng thu giữ, tạm giữ của Lò Văn Đ: 0,03 gam Heroine; 01 mảnh giấy một mặt có in dòng kẻ màu đỏ, chữ màu xanh, một mặt màu trắng. Đối với 0,03 gam Heroine đã gửi giám định hết, không hoàn lại mẫu vật. Còn lại 01 mảnh giấy một mặt có in dòng kẻ màu đỏ, chữ màu xanh, một mặt màu trắng, chuyển Chi cục thi hành án dân sự thành phố L chờ xử lý.
Cáo trạng số 16/CT- VKSTP, ngày 28/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L đã truy tố Lò Văn Đ về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
* Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lò Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Lò Văn Đ mức án từ 14 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh giấy một mặt có in dòng kẻ màu đỏ, chữ màu xanh, một mặt màu trắng.
Đối với 0,03 gam Heroine đã gửi giám định hết, không hoàn lại mẫu vật, nên không đề nghị xem xét giải quyết.
- Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Lò Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo Lò Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố đối với bị cáo và không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên rất hối hận, ăn năn hối cải và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai đã khai báo tại cơ quan điều tra về quá trình thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác cũng như vật chứng thu giữ trong vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 13 giờ 40 phút ngày 18/12/2024, tại tổ 15, phường Tân Phong, thành phố L, tỉnh L, Lò Văn Đ đang tàng trữ trái phép 0,03 gam Heroine để sử dụng thì bị tổ công tác của Công an phường Tân Phong, thành phố L phối hợp với đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma tuý Công an thành phố L phát hiện, bắt quả tang. Mặc dù khối lượng Heroine Lò Văn Đ tàng trữ dưới 0,1 gam nhưng Đ đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích nên Đ phải chịu trách nhiệm hình sự về lần vi phạm này. Bị cáo Lò Văn Đ là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Do vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;
Điều luật quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục Đ mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
.....
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội thấy rằng:
Vụ án có tính chất nghiêm trọng, hành vi mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Chúng ta đều biết ma túy là chất gây nghiện độc hại phá hủy trực tiếp hệ thần kinh trung ương của người sử dụng, làm cho họ phụ thuộc vào chất ma túy, hủy hoại sức khỏe của những người sử dụng, làm cho họ dần dần không còn khả năng lao động và sinh sống bình thường và làm khánh kiệt kinh tế của gia đình. Việc sử dụng ma túy còn làm cho người sử dụng không thể điều khiển được hành vi của mình và có thể dẫn đến các hành vi nguy hiểm cho bản thân và cho xã hội. Vì vậy Đảng và Nhà nước ta đã và đang tích cực phòng chống để đẩy lùi và loại trừ ma tuý ra khỏi đời sống xã hội. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy gây ra nhưng để thỏa mãn cho nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét toàn diện về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân: Bị cáo có 01 tiền án: Bản án số 75/2022/HS-ST ngày 29/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh L, tỉnh L xử phạt bị cáo 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 08/08/2024, bị cáo chấp hành xong án phạt tù. Tính đến ngày 18/12/2024 thì bị cáo chưa được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về vật chứng vụ án:
Đối với 0,03 gam Heroine thu giữ của Lò Văn Đ đã gửi toàn bộ đi giám định tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh L, không hoàn lại mẫu vật, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với 01 mảnh giấy một mặt có in dòng kẻ màu đỏ, chữ màu xanh, một mặt màu trắng. Xét đây là vật chứng và là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Trong vụ án này: Theo lời khai của bị cáo Lò Văn Đ thì nguồn gốc 0,03 gam Heroine bị thu giữ là Đ mua của một người phụ nữ tại khu vực đồi chè thuộc tổ 15, phường Tân Phong, thành phố L, tỉnh L. Do bị cáo không biết nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan điều tra không thể điều tra, làm rõ. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Lò Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
[1] Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lò Văn Đ phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[2] Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Lò Văn Đ 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2024.
Tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị cáo Lò Văn Đ để đảm bảo cho việc thi hành án.
[3] Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy một phong bì công văn của Công an thành phố L, bên trong gồm: 01 mảnh giấy một mặt có in dòng kẻ màu đỏ, chữ màu xanh, một mặt màu trắng. Vật chứng còn lại sau khi lấy mẫu gửi giám định thu giữ của Lò Văn Đ, trong quá trình bắt quả tang ngày 18/12/2024.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 08 giờ 30 phút ngày 28/02/2025, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố L).
[4] Về án phí: Buộc bị cáo Lò Văn Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
[5] Về quyền kháng cáo:
Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh L;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh L;
- Cơ quan CSĐT CA tỉnh L;
- Cơ quan THAHS CA tỉnh L;
- Cơ sở quản lý tạm giữ, tạm giam khu vực thành phố, thuộc Trại tạm giam CA tỉnh L;
- VKSND TP L;
- Chi cục THADS TP L;
- Phòng Hồ sơ CA tỉnh L;
Phạm Thị Nga
- Bị cáo;
- Lưu HSVA.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Các Hội thẩm nhân dân
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
Phạm Thị Nga
| Nơi nhận: - TAND tỉnh L; - VKSND tỉnh L; - Công an TP L; - VKSND TP L; - Chi cục THADS TP L; - Sở Tư pháp tỉnh L; - Bị cáo; - Lưu HSVA. từ ngày tuyên án. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Các Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Nga Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong thời hạn 15 ngày kể Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Phạm Thị Nga |