vanban.org

Bản án 42/2025/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 7 - Cần Thơ, TP. Cần Thơ Tuyên án 26/12/2025 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Võ Thanh K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Võ Thanh K 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo với thời gian thử thách 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án ngày 26/12/2025. Giao bị cáo Võ Thanh K cho Ủy ban nhân dân xã V, thành phố Cần Thơ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vi phạm quy định về TGGT đường bộ Võ Thanh K - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Võ Thanh K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 7 – CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2025/HS-ST
Ngày 26-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 – CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Nghiệp

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Thúy Kiều

Ông Võ Văn Thỏ

- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Huệ Chi – Là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Võ Thành Hay - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 12 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 38/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:

Võ Thanh K, sinh ngày 01/01/1977 tại C, T, Sóc Trăng (nay thuộc xã V, thành phố Cần Thơ). Nơi cư trú: Ấp B, xã V, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn L và bà Nguyễn Thị Q; có vợ Trần Thị S và 02 người con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2004; tiền án: Không, tiền sự: Không; nhân thân: Không có án tích; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/4/2025 đến nay (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

1/ Ông Võ Thanh T, sinh ngày 30/6/2004 (đã chết).

Địa chỉ: Ấp B, xã V, thành phố Cần Thơ.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại Võ Thanh T: Bà Trần Thị S, sinh năm 1978 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp B, xã V, thành phố Cần Thơ.

2/ Bà Trần Thị T1, sinh năm 1976 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp C, xã P, thành phố Cần Thơ.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Văn L1, sinh năm 1987 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp S, phường Đ, thành phố Cần Thơ (trước đây là ấp S, Đ, thành phố N, tỉnh Hậu Giang).

- Người làm chứng:

1/ Ông Lê Trường K1, sinh năm 2003 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã V, tỉnh Cà Mau.

2/ Bà Hồ Thị Ngọc S1, sinh năm 1993 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp S, xã P, thành phố Cần Thơ.

3/ Ông Quách Hoài P, sinh năm 1998 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp R, xã P, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 29/12/2024, bị cáo Võ Thanh K điều khiển xe mô tô mang biển số 83P1 – 270.24 chở con ruột là ông Võ Thanh T (không đội mũ bảo hiểm) lưu thông trên tuyến đường tỉnh 937B hướng từ xã P đi xã V. Khi đến đoạn thuộc ấp X, xã P thì ông K phát hiện có xe ô tô tải biển số 62C - 119.39 do ông Nguyễn Văn L1 đang điều khiển cùng chiều phía trước, bị cáo điều khiển xe vượt lên bên trái xe ô tô tải, khi vượt lên đến đuôi xe tải thì bị cáo nhìn thấy xe mô tô biển số 83P2- 114.12 do bà Trần Thị T1 điều khiển theo chiều ngược lại, nhưng bị cáo không dừng lại mà tiếp tục điều khiển xe để vượt lên phía trước, khi xe vượt lên đến ca bin xe tải thì xảy ra va chạm với xe mô tô của bà T1 làm cho bà T1 và xe mô tô do bà T1 điều khiển ngã tại chỗ, còn bị cáo, ông T và xe mô tô do bị cáo điều khiển trượt ngã trên phần đường bên trái trượt song song với xe tải thêm khoảng 15m thì ông T bị xe ô tô tải 62C - 119.39 cán qua phần đầu tử vong tại hiện trường, còn bị cáo bị thương tích ngoài da, bà T1 cũng bị thương ở cẳng chân bên trái được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện B và nằm viện.

Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định nguyên nhân tử vong của ông Võ Thanh T, giám định tỉ lệ tổn thương cơ thể của bà Trần Thị T1 và định giá phương tiện hư hỏng. Tại Kết luận giám định tử thi số: 01/KLGĐTT-TTPYST ngày 14/01/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh S kết luận nguyên nhân tử vong của Võ Thanh T là: Bị tai nạn giao thông gây chấn thương sọ não nặng (xương sọ bị biến dạng, vỡ phức tạp thành nhiều mãnh, rách màng cứng, dưới màng cứng có nhiều máu tụ và nhu mô não dập chảy ra) đưa đến tử vong. Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 262/KLTTCT-TTPYST ngày 14/8/2025 của Trung tâm Pháp y tỉnh S kết luận thương tích đối với bà Trần Thị T1: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Trần Thị T1 tại thời điểm giám định là 10% (mười phần trăm). Tại Kết luận định giá số tài sản số: 38/KL-HĐĐGTS ngày 30/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, tỉnh Sóc Trăng kết luận: thiệt hại của xe mô tô biển số 83P1- 270.24 là 2.939.000 đồng và thiệt hại của xe mô tô biển số 83P2- 114.12 là 4.037.000 đồng.

Tại Bản Cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 13/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ truy tố bị cáo Võ Thanh K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố, phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Võ Thanh K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, đề nghị xử phạt bị cáo K mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng. Về hình phạt bổ sung không đề nghị áp dụng. Về trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét do bị cáo và bị hại, đại diện bị hại đã thỏa thuận xong. Án phí buộc bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Võ Thanh K thống nhất toàn bộ nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện chăm lo cho gia đình.

Quá trình điều tra gia đình bị hại, bị hại xin không xử lý hình sự đối với bị cáo, về trách nhiệm dân sự không yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên, Kiểm sát viên, cơ quan điều tra và cơ quan Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan quan tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về tố tụng: Tại Quyết định đưa vụ án ra xét xử Tòa án xác định bà Trần Thị T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án là chưa chính xác, căn cứ Điều 62 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định bà T1 là bị hại trong vụ án. Tại phiên toà những người làm chứng được Tòa án triệu tập đều vắng mặt không lý do. Xét thấy, những người vắng mặt đã có lời khai trước đó tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt không cản trở việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Võ Thanh K thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, lời nhận tội của bị cáo phù hợp biên bản hiện trường, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Ngày 29/12/2024 bị cáo Võ Thanh K điều khiển xe mô tô 83P1-270.24 chở theo con ruột là Võ Thanh T lưu thông trên tuyến tỉnh lộ 937B từ hướng xã P về xã V, khi đi đến đoạn thuộc địa phận ấp X, xã P, bị cáo điều khiển xe vượt xe ô tô 62C – 119.39 không đảm bảo an toàn (vi phạm quy định tại khoản 2, Điều 14 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định: Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải) dẫn đến va chạm với xe mô tô 83P2 – 114.12 do bà Trần Thị T1 điều khiển theo chiều ngược lại, hậu quả làm Võ Thanh T con ruột bị cáo tử vong tại hiện trường và bà T1 bị thương tích với tỷ lệ 10% và hư hỏng tài sản. Nên đủ căn cứ xác định bị cáo Võ Thanh K đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 13/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Cần Thơ truy tố bị cáo theo điều luật đã viện dẫn ở trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quy định của Nhà nước về an toàn giao thông đường bộ và gây thiệt hại đến tính mạng của người khác đặc biệt trong trường hợp này là tính mạng chính con ruột bị cáo. Bị cáo thực hiện với lỗi vô ý do cẩu thả. Hậu quả làm cho gia đình bị cáo và chính bản thân bị cáo đã mất đi một người con đang tuổi còn rất trẻ, nỗi đau và sự mất mát này không có gì bù đắp được. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và năng lực hành vi nên cần phải có mức hình phạt tương xứng với mức độ cũng như hậu quả bị cáo gây ra.

Tuy nhiên, khi xem xét hình phạt Hội đồng xét xử có cân nhắc đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục toàn bộ thiệt hại, đại diện bị hại bà S và bị hại bà T1 yêu cầu miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo và tại phiên tòa xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng quy định pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận. Do bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên vị đại diện Viện kiểm sát đồng thời đề nghị áp dụng khoản 3 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù thì bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo, nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương giáo dục cũng đủ sức răn đe bị cáo; đồng thời cũng thể hiện tính nhân đạo và sự khoan hồng của pháp luật, tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, xét đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Do không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong tại giai đoạn điều tra, truy tố, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, khoản 3 Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Võ Thanh K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Võ Thanh K 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho bị cáo hưởng án treo với thời gian thử thách 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án ngày 26/12/2025.

Giao bị cáo Võ Thanh K cho Ủy ban nhân dân xã V, thành phố Cần Thơ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí sơ thẩm: Buộc bị cáo Võ Thanh K nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định pháp luật.

3. Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Cỡ chữ