vanban.org

Bản án 42/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Về điều luật áp dụng và hình phạt: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quang T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀM YÊN
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 42/2025/HS-ST
Ngày 16 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Tùng.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Hà Linh.

2. Ông Nguyễn Duy Sự.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Thu Hương - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên toà: Ông Phạm Tất Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang và Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên mở phiên tòa trực tuyến xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức số hóa vụ án hình sự thụ lý số 28/2025/TLST-HS, ngày 11 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 31/2025/QĐXXST-HS ngày 21/3/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/HSST-QĐ ngày 03/4/2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Quang T (tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh ngày: 16/8/1990 tại huyện Y, tỉnh Tuyên Quang;

- Nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang;

- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không;

- Họ và tên cha: Nguyễn Quang L, sinh năm 1958; Họ và tên mẹ: Hán Thị T, sinh năm 1959; Anh chị em ruột: Có 05 người, bị cáo là thứ tư; Vợ: Triệu Thị N, sinh năm 1990; Con: Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2024.

- Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/01/2025. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 01/01/2025, Nguyễn Quang T, sinh năm 1990, trú tại thôn C, xã T, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang một mình đi bộ từ nhà ra đường Quốc lộ 2 Tuyên Quang - Hà Giang, sau đó đi nhờ xe máy của một người đàn ông không quen biết đến khu vực cầu Km24 Quốc lộ 2 Tuyên Quang - Hà Giang thuộc địa phận thôn Cây Chanh 2, xã Đức Ninh, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang để tìm mua ma tuý sử dụng cho bản thân. Tại đây T gặp một người đàn ông không quen biết hỏi và mua được của người đàn ông này 01 túi nilon màu đen được hàn kín, bên trong chứa ma túy với giá 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Mua được ma túy, T cất vào túi quần bên phải phía trước chiếc quần đang mặc trên người sau đó đi bộ dọc theo đường Quốc lộ 2 về nhà. Khi đi đến đoạn đường vắng người thuộc thôn Chẽ, xã Đức Ninh, T lấy ít ma túy ra sử dụng bằng hình thức đốt hít vào cơ thể, số ma túy còn lại T gói lại như cũ rồi cất vào túi quần bên phải phía trước chiếc quần đang mặc trên người, tiếp tục đi bộ về nhà. Hồi 20 giờ 00 phút cùng ngày, tại đoạn đường thuộc thôn Chẽ, xã Đức Ninh, huyện Hàm Yên thì T bị tổ công tác Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Yên đang làm nhiệm vụ, phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, thu giữ tang vật. T khai nhận việc tàng trữ số ma túy trên mục đích để sử dụng.

Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với Nguyễn Quang T ngày 01/01/2025, kết quả: Trung (+) dương tính với chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 121/KL-KTHS ngày 04/4/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, kết luận: Mẫu vật gửi giám định thu giữ của Nguyễn Quang T là chất ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,226g (Không phẩy hai hai sáu gam).

Từ nội dung trên, tại bản cáo trạng số 29/CT-VKSHY, ngày 10/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Nguyễn Quang T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Quang T tiếp tục khai nhận hành vi phạm tội của mình. Nội dung lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra.

Kết thúc phần hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với Nguyễn Quang T theo tội danh, điều luật đã nêu trong cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Quang T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Quang T từ 01 (một) năm 3 (ba) tháng đến 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 01/01/2025).

- Về hình phạt bổ sung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước bì ghi dòng chữ “CÔNG AN TỈNH TUYÊN QUANG-PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ-ĐỘI GIÁM ĐỊNH”. Tang vật vụ Nguyễn Quang T, giám định ngày 02/01/2025, mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của các thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong chứa ma túy, loại Methamphetamine thu giữ của Nguyễn Quang T.

Ngoài ra còn đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Quang T nhất trí với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có tranh luận gì. Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là sai trái, bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quang T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Ngoài lời khai nhận tội của bị cáo, hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Vật chứng thu giữ; Kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Từ những chứng cứ trên đã có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 20 giờ 00 phút ngày 01/01/2025, tại đoạn đường thuộc thôn Chẽ, xã Đức Ninh, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Bị cáo Nguyễn Quang T đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, loại Methamphetamine, khối lượng 0,226g (Không phẩy hai hai sáu gam) mục đích để sử dụng cho bản thân, bị tổ công tác Công an huyện Hàm Yên phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang truy tố bị cáo về hành vi phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

Xét về tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến chế độ quản lý sử dụng các chất ma tuý của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng chống tệ nạn ma tuý, đồng thời còn làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là sai trái, là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý phạm tội. Do vậy, cần phải xét xử bị cáo thật nghiêm minh và cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo và phục vụ công tác phòng chống tội phạm chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử chấp nhận xử phạt bị cáo mức án trong khung đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang đề nghị tại phiên toà là phù hợp, có căn cứ pháp luật.

Về tố tụng: Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, bị cáo không có tài sản, không thu nhập ổn định, không có công việc hay chức vụ gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Hàm Yên đã thu giữ: 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước bì ghi dòng chữ “CÔNG AN TỈNH TUYÊN QUANG-PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ-ĐỘI GIÁM ĐỊNH”. Tang vật vụ Nguyễn Quang T, giám định ngày 02/01/2025, mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của các thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong chứa ma túy, loại Methamphetamine thu giữ của Nguyễn Quang T. Hội đồng xét xử xét thấy: Đối với khối lượng ma túy trên là vật chứng của vụ án và bị cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định.

Về các vấn đề khác liên quan đến vụ án.

- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo Nguyễn Quang T. Ngày 24/02/2025, Công an huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt Cảnh cáo nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

- Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo Nguyễn Quang T vào ngày 01/01/2025, Cơ quan cảnh sát điều tra không xác định được tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ để điều tra xử lý trong vụ án nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Quang T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quang T, phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

+ Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quang T 01 (một) năm 6 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 01/01/2025).

3. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong còn nguyên vẹn, mặt trước bì ghi dòng chữ “CÔNG AN TỈNH TUYÊN QUANG-PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ-ĐỘI GIÁM ĐỊNH”. Tang vật vụ Nguyễn Quang T, giám định ngày 02/01/2025, mặt sau trên các mép dán có chữ ký giáp lai của các thành phần tham gia và 05 hình dấu của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tuyên Quang, bên trong chứa ma túy, loại Methamphetamine thu giữ của bị cáo Nguyễn Quang T.

(Tình trạng như Biên bản giao vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Tuyên Quang với Chi cục thi hành án dân sự huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang, lập ngày 01/4/2025).

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

- Bị cáo Nguyễn Quang T phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền được kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Cỡ chữ