vanban.org

Bản án 42/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh, hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân S 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giữ 05/4/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân S - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh, hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN MAI CHÂU
TỈNH HOÀ BÌNH
–––––––––––
Bản án số: 42/2025/HS-ST
Ngày: 30-6-2025.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI CHÂU, TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thanh Hòa và ông Lường Khắc Tiệp.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Cao – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thúy Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2025/TLST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 36/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân S, sinh ngày 31 tháng 8 năm 2000, tại Thành phố Hà Nội; nơi thường trú: Số 0x, hẻm 16x/13x/1x, phố K, phường K, quận T, Thành phố Hà Nội; nơi ở hiện tại: 22TTxx, phường P, quận H, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1970 và bà Tô Thị Việt C, sinh năm 1975; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo chưa từng bị kết án, bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/4/2025, chuyển tạm giam từ ngày 14/4/2025 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 05/4/2025, Tổ công tác gồm Công an thị trấn Mai Châu, huyện Mai Châu phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hòa Bình đang làm nhiệm vụ tại Tiểu khu 4, thị trấn Mai Châu, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình thì phát hiện Nguyễn Xuân S, sinh năm 2000, nơi thường trú: Số 0x, hẻm 16x/13x/1x, phố K, phường K, quận T, Thành phố Hà Nội có biểu hiện nghi vấn tội phạm, Tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra. Quá trình kiểm tra phát hiện trong túi đeo trên người của Nguyễn Xuân S có 01 hộp kim loại bên trong có: 01 gói nilon màu trắng viền đỏ chứa 05 viên nén hình trụ màu xám; 01 gói nilon màu trắng viền đỏ có bám dính chất màu trắng và 03 mảnh giấy; 01 ống nhựa hình trụ bên trong có chứa chất màu trắng. Nguyễn Xuân S khai nhận các đồ vật trên là ma túy, S tàng trữ mục đích để sử dụng cho bản thân. Cơ quan điều tra đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ và niêm phong vật chứng theo quy định pháp luật. Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Xuân S khai nhận về nguồn gốc số ma túy trên như sau: Trưa ngày 04/4/2025, Nguyễn Xuân S cùng một số người bạn đi xe khách lên huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình để tham gia lễ hội âm nhạc do Công ty Savage Club tổ chức. Đến huyện Mai Châu, Sơn đến thuê phòng ở tại khách sạn Khoa T, địa chỉ: Xóm M, xã C, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Đến khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn tối xong S cùng một số người khác đến khu vực tổ chức lễ hội âm nhạc ở hang Mỏ Luông, thuộc huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình. Tại đó, S có gặp và nói chuyện với một người đàn ông không quen biết, quá trình nói chuyện do có nhu cầu mua ma túy để sử dụng cho bản thân nên S có hỏi và mua được với người đó 05 viên MDMA, một ống nhựa có chứa Ketamine và 01 gói nhỏ chứa các mảnh giấy màu đỏ chứa chất ma túy LSD hết số tiền 4.200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, S đi bộ về phòng 305 khách sạn Khoa T, một mình đi vào phòng vệ sinh và cất giấu toàn bộ số ma túy vừa mua được vào một lọ kim loại rồi để vào túi đeo chéo của S. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, S mang túi đeo chéo bên trong có chứa ma túy đi đến lễ hội âm nhạc chơi. Đến khoảng 02 giờ ngày 05/04/2025 sau khi tham gia lễ hội âm nhạc xong, S đi bộ về khách sạn Khoa T, khi S đang đi đến khu vực Tiểu khu 4, thị trấn Mai Châu, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình thì bị Tổ công tác gồm Công an thị trấn Mai Châu, huyện Mai Châu phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hòa Bình kiểm tra, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số vật chứng.

Ngoài ra quá trình điều tra Nguyễn Xuân S còn khai: Trước đó vào khoảng giữa tháng 3 năm 2025, S có nhờ An Trung H, sinh năm: 1995, nơi thường trú: Tổ 1x cụm x, phường Q, quận T, Thành phố Hà Nội (là bạn của S) mua hộ 03 viên MDMA thống nhất khi nào lên Mai Châu tham gia lễ hội âm nhạc sẽ cầm ma túy lên cho Sơn. Đến khoảng 22 giờ ngày 04/4/2025, tại phòng số 30x khách sạn Khoa T (là phòng H thuê để lưu trú) S có lấy với H 03 viên ma túy mà S đã nhờ H mua hộ trước đó (nhưng chưa trả tiền). Nhận ma túy, S về phòng 30x khách sạn Khoa T và một mình đã sử dụng hết 03 viên ma túy trên trong phòng vệ sinh.

Tại Kết luận giám định số: 192/KL-KTTS ngày 10/4/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hòa Bình kết luận:

- 05 viên nén màu xám ký hiệu M1 trong phong bì niêm phong một mặt có ghi “Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Xuân S, xảy ra tại: Tiểu khu 4, thị trấn Mai Châu, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình ngày 05/4/2025” gửi giám định có tổng khối lượng 1,83g (Một phẩy tám mươi ba gam), là ma túy, loại MDMA.

- Chất màu trắng ký hiệu M2 trong phong bì niêm phong một mặt có ghi “Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Nguyễn Xuân S, xảy ra tại: Tiểu khu 4, thị trấn Mai Châu, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình ngày 05/04/2025” gửi giám định có khối lượng 0,68g (Không phẩy sáu mươi tám gam), là ma túy, loại Ketamine.

Tại Kết luận giám định số: 3036/KL-KTHS ngày 17/04/2025 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận:

- Tìm thấy chất ma túy LSD trên 03 mảnh giấy đựng trong 01 gói nilon gửi giám định; tổng khối lượng 03 mảnh giấy là 0,035 gam; hàm lượng LSD trung bình là 0,04%;

- Tìm thấy chất ma túy Ketamine trong 01 gói nilon có bám dính chất màu trắng gửi giám định, không xác định được khối lượng chất bám dính màu trắng trong 01 gói nilon.

Tại bản Cáo trạng số: 36/CT-VKSMC ngày 10 tháng 6 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu truy tố Nguyễn Xuân S về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Châu luận tội giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh, hình phạt: Đề nghị tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Nguyễn Xuân Sơn từ 14 tháng đến 17 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 05/4/2025.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, không có việc làm ổn định, không có điều kiện thi hành nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:

- Tuyên tịch thu toàn bộ số ma túy thu được, sau khi giám định số còn lại đã hoàn trả, để tiêu hủy.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 13 PROMAX, màu vàng đen, bên trong có 01 sim Viettel số 098659xxx (máy cũ đã qua sử dụng) thu giữ của Nguyễn Xuân S. Kết quả điều tra xác định chiếc điện thoại trên không có nội dung gì liên quan đến hoạt động phạm tội về ma túy, nên đề nghị trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân S.

Về vấn đề khác:

- Đối với người mà Nguyễn Xuân S khai đã bán ma tuý cho S, kết quả điều tra không xác định được tên tuổi, địa chỉ của người này, không xác định được là ai nên không có căn cứ đề nghị xử lý.

- Đối với An Trung H là người mà S khai đã mua hộ cho S 03 viên ma túy MDMA. Kết quả điều tra xác định: S nhờ H mua hộ ma túy với mục đích để sử dụng cho bản thân và đã sử dụng hết, không có cơ sở để xác định được khối lượng chất ma túy. Do vậy không có căn cứ đề nghị xử lý.

- Đối với bị cáo Nguyễn Xuân S đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng vệ sinh trong phòng 30x khách sạn Khoa T, có địa chỉ tại xóm M, xã C, huyện M, tỉnh Hòa Bình. Nhưng chủ nhà nghỉ không biết, không liên quan, nên không cấu thành tội Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nên không xem xét xử lý.

Đề nghị áp dụng khoản 1 và khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo.

Ý kiến của bị cáo: Bị cáo đã nhận được các văn bản tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án, quá trình điều tra, truy tố xét xử bị cáo đã được phổ biến quyền và nghĩa vụ, không bị ép cung, mớm cung, bị cáo đồng ý với nội dung Cáo trạng và Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, bị cáo không thuê Luật sư hoặc nhờ trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho mình, bị cáo không nghiện chất ma túy mà chỉ sử dụng ma túy để tăng hưng phấn khi nghe nhạc nên bị cáo đã mua, tàng trữ ma túy để sử dụng, ngoài ra không có mục đích gì khác. Việc bị cáo tàng trữ ma túy và sử dụng không ai biết và liên quan. Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 13 PROMAX, màu vàng đen, bên trong có 01 sim Viettel số 098659xxx của bị cáo đang bị thu giữ, bị cáo không dùng vào việc phạm tội ma túy nên đề nghị được trả lại. Trong thời gian tạm giữ, tạm giam bị cáo đã suy nghĩ, ân hận về hành vi phạm tội của mình, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Những chứng cứ xác định có tội: Bị cáo bị bắt, bị lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tại cơ quan điều tra và phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với vật chứng thu được, các kết luận giám định cùng toàn bộ tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ để kết luận: Nguyễn Xuân S là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 04/4/2025, tại khu vực tổ chức lễ hội âm nhạc ở hang Mỏ Luông, thuộc Tiểu khu 4, thị trấn Mai Châu, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình, S đã mua được 01 gói ma túy bên trong có chứa: 05 viên ma túy MDMA, 01 ống nhựa chứa ma túy loại Ketamine và 01 gói nilon chứa các mảnh giấy chứa chất ma túy LSD với một người đàn ông không quen biết với số tiền 4.200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, S đã cất giấu trong 01 lọ kim loại và để trong túi đeo chéo trên người với mục đích để sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích gì khác. Đến khoảng 02 giờ sáng ngày 05/4/2025, sau khi tham gia lễ hội âm nhạc xong, Nguyễn Xuân S đi bộ trở về khách sạn Khoa T, khi đi đến khu vực Tiểu khu 4, thị trấn Mai Châu, huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình thì Tổ công tác gồm Công an thị trấn Mai Châu, huyện Mai Châu phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Hòa Bình bắt quả tang, thu giữ 1,83 gam ma túy loại MDMA; 0,68 gam ma túy loại Ketamine và 0,000014 gam ma túy loại LSD và niêm phong theo quy định.

Do các chất ma túy không cùng loại, không quy định trong cùng một điểm theo Điều 249 Bộ luật Hình sự, nên căn cứ vào khoản 2, Điều 5 Nghị định số: 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số Điều của Bộ luật Hình sự năm 2015, xác định được: Tổng tỷ lệ phầm trăm về khối lượng 03 chất ma túy loại MDMA, Ketamine và LSD mà Nguyễn Xuân S tàng trữ lần lượt là: 36,6% + 3,4% + 0,00007% = 40,00007% (Thuộc trường hợp dưới 100%). Như vậy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 5 Nghị định nêu trên thì tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng chất ma túy mà Nguyễn Xuân S tàng trữ thuộc trường hợp quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 1,83 gam ma túy loại MDMA; 0,68 gam ma túy loại Ketamine và 0,000014 gam ma túy loại LSD.

Như vậy có đủ căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Xuân S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Chứng cứ xác định không có tội: Không có.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, biết rõ tác hại của ma tuý đối với bản thân, gia đình và xã hội, trong khi Nhà nước và toàn thể xã hội đang tìm mọi biện pháp phòng, chống tiến tới loại trừ tệ nạn ma tuý ra khỏi cộng đồng bởi tác hại rất lớn của nó, nhưng bị cáo vẫn cố ý tàng trữ 03 chất ma túy với khối lượng 1,83 gam loại MDMA, 0,68 gam loại Ketamine và 0,000014 gam loại LSD để sử dụng nhằm tăng hưng phấn khi nghe nhạc. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý Nhà nước về chất ma túy.

Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có bà ngoại là Trần Thị M là người được hưởng chính sách như thương binh nên cũng được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Căn cứ quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội, khối lượng tàng trữ, nguyên nhân, hậu quả của hành vi phạm tội, tiền án, tiền sự, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo nêu trên. Xét cần xử phạt tù có thời hạn với mức án nghiêm khắc, nhưng phù hợp đối với bị cáo, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tội danh, điều luật áp dụng, hình phạt, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, tạm giam sau khi tuyên án và về các vấn đề khác mà đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã có ý kiến đề nghị nêu trên. Xét thấy có căn cứ phù hợp quy định pháp luật cần xử lý, giải quyết theo hướng đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về án phí hình sự: Bị cáo Nguyễn Xuân S phải nộp án phí theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh, hình phạt:

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân S 14 (mười bốn) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày tạm giữ 05/4/2025.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên:

- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ chất ma túy loại MDMA, loại Ketamine và loại LSD sau khi giám định số còn lại đã hoàn trả, được niêm phong trong 02 phong bì.

- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Xuân S 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu IPHONE 13 PROMAX, số máy: MLLD3VN/A, số sê ri: QL7KG7TFW, màu vàng đen, bên trong có 01 sim Viettel số 098659xxx (ký hiệu sim, 89840 4800031322xxx), điện thoại vỡ và nứt màn hình điện thoại cũ đã qua sử dụng.

(Các Vật chứng nêu trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu, tình trạng, đặc điểm cụ thể của các vật chứng được ghi trong Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số: 43/THA ngày 23/6/2025 giữa bên giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hòa Bình, bên nhận Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mai Châu).

3. Về án phí:

Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bị cáo Nguyễn Xuân S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình để xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ