- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lò Văn M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC X - ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 42/2025/HS-ST Ngày 24-9-2025 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC X - ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Trương Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: ông Lò Văn Đoàn
ông Hảng A Nếnh
- Thư ký phiên tòa: bà Giáp Thị Bích Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực X - Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực X - Điện Biên tham gia phiên tòa: ông Ngô Hoài Ngân- Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực X - Điện Biên, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2025/TLST-HS ngày 09/9/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2025/QĐXXST-HS ngày 15/9/2025 đối với bị cáo:
Lò Văn M; Giới tính: Nam; Sinh ngày 10 tháng 11 năm 1984 tại tỉnh Điện Biên. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: bản L, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên (cũ) nay là bản L, xã M, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Nghề nghiệp: nông nghiệp; Trình độ học vấn: 11/12; Con ông Lò Xuân L, sinh năm 1951 và bà Lò Thị P, đã chết; vợ là Lò Thị P, sinh năm 1986, bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền án: không; Tiền sự: không; Chức vụ đảng, chính quyền: là đảng viên ĐCSVN (đang đình chỉ sinh hoạt đảng); Nhân thân: Chưa bị xử lý hành chính, chưa bị kết án. Tạm giữ: từ ngày 15/6/2025 đến ngày 24/6/2025, tạm giam: từ ngày 24/6/2025 đến nay. Bị cáo có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: ông Ngô Đức T, sinh năm 1962 - là luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện Biên. Có mặt.
NỘI DUNG V N
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 15 phút ngày 15/6/2025 bị cáo Lò Văn M đi từ nhà ra khu vực bản C, xã X, huyện M (nay là xã M), tỉnh Điện Biên tìm mua ma túy để sử dụng, đến nơi bị cáo đi trên đường thì gặp người đàn ông tên C và mua được 02 gói ma túy với giá 250.000 đồng, sau đó bị cáo cất vào túi quần bên phải đang mặc rồi đi về.
Hồi 12 giờ 30 phút cùng ngày, khi bị cáo đang đi trên đường thuộc bản N, xã M thì bị tổ công tác Công an xã M phát hiện, bắt quả tang và thu giữ 02 gói ma túy bị cáo đang cất giấu.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói nilon màu xanh, bên trong có 03 viên nén màu hồng, trên mặt mỗi viên nén có chữ “WY”; 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và dạng bột.
Kết luận giám định số 590/KL-KTHS ngày 21/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Vật chứng gửi giám định thu giữ của Lò Văn M ký hiệu M1 có khối lượng 0,33 gam là chất ma túy: Loại Methamphetamine; Ký hiệu M2 có khối lượng 0,2 gam là chất ma túy: loại Heroin (Heroine).
Cáo trạng số 33/CT-VKSKV1 ngày 08 tháng 9 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực X - Điện Biên truy tố bị cáo Lò Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 05 tháng đến 01 năm 08 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về vật chứng, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại, các mảnh nilon và vỏ phong bì niêm phong; đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến tranh luận về tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; trong quá trình điều tra truy tố, xét xử, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về toàn bộ hành vi phạm tội của mình, Bị cáo có bố đẻ là ông Lò Văn L là người có công được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công và Huân chương chiến sỹ vẻ vang, gia đình thuộc hộ cận nghèo. Đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xem xét áp dụng mức hình phạt thấp nhất trong khung đề nghị của viện kiểm sát. Đồng ý với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về không áp dụng hình phạt bổ sung, về xử lý vật chứng và miễn án phí cho bị cáo
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và xin giảm nhẹ hình phạt.
NH N Đ NH CỦA TÒA N
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi mua và cất giấu trái phép chất ma túy với mục đích để sử dụng, khi bị cáo đang mang ma túy đi trên đường đã bị công an phát hiện bắt quả tang. Lời khai của Bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả thu giữ vật chứng; biên bản xác định khối lượng và bản Kết luận giám định của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên.
Có đủ cơ sở kết luận, bị cáo Lò Văn M là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, ngày 15/6/2025 bị cáo đã một mình mua được 02 gói ma túy, loại Heroine và Methamphetamine, có tổng khối lượng 0,53 gam với mục đích để sử dụng và đã bị công an phát hiện bắt quả tang. Hành vi mua và tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự;
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ngày 15/6/2025 nên áp dụng Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo.
Điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định:
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: …
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, Ketamine, Fentanyl, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; …
i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này”
Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[2] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Về nhân thân: Bị cáo chưa bị xử lý hành chính, chưa bị kết án.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo có bố đẻ là ông Lò Văn L là người có công được nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến công và Huân chương chiến sỹ vẻ vang nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo Điều 52 Bộ luật Hình sự
Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo.
[3] Về hình phạt bổ sung:
Căn cứ vào biên bản xác minh tài sản của cơ quan điều tra và qua tranh tụng tại phiên tòa cho thấy, bị cáo thuộc hộ cận nghèo, không có tài sản gì giá trị, đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về các vấn đề có liên quan:
Theo lời khai của bị cáo thì người đàn ông bán ma túy cho bị cáo có tên là Hờ A C, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng hiện nay Hờ A C đã bỏ trốn khỏi địa phương; Cơ quan điều tra đã ra quyết định truy tìm và xem xét xử lý sau, do đó Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
[5] Về vật chứng của vụ án:
Số ma túy còn lại là vật cấm tàng trữ, các mảnh nilon và vỏ niêm phong là vật không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí:
Bị cáo thuộc hộ cận nghèo, là dân tộc thiểu số ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn toàn bộ án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, ngƣời có thẩm quyền tiến hành tố tụng:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT Đ NH:
Căn cứ điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sụng năm 2017
1. Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn M phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2 Hình phạt:
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Lò Văn M 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/6/2025.
3 Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a,c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
* Tịch thu tiêu hủy:
- 0,3 gam Methamphetamine và 0,17 gam Heroine còn lại sau khi trích mẫu gửi giám định được niêm phong trong phong bì dán kín các mép của phòng K Công an tỉnh Điện Biên.
- 02 (hai) mảnh nilon màu xanh được niêm phong trong phong bì dán kín các mép của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên.
Số vật chứng trên cơ quan Thi hành án dân s đang quản l theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan điều tra Công an tỉnh và Phòng Thi hành án dân s Khu v c X - Điện Biên).
4 Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn M.
5. Kháng cáo: áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/9/2025).
| Nơi nhận: - VKSND Khu vực X - Điện Biên; - VKSND tỉnh Điện Biên; - Công an tỉnh Điện Biên (PC04); - Trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên; - Bị cáo; người bào chữa; - Phòng Giám đốc kiểm tra, Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên; - THADS tỉnh Điện Biên; - Phòng HSNV Công an tỉnh (PV06); - Lưu: HSVA, HCTP | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trƣơng Anh Tuấn |